Những hàng quán 'thâm niên' ở Sài Gòn

(ĐVO) - Tinh hoa ẩm thực Sài Gòn thường nằm trong những quán vốn đã có từ lâu đời. Không chỉ là quán lớn, đôi khi chỉ là quán vỉa hè, quán cóc nhưng sự tồn tại đã qua nhiều chục năm đến mức ghi dấu ấn khó quên trong lòng thực khách.
Ta có thể điểm qua những quán như:

Bánh đúc vỉa hè hơn 40 năm tuổi

Nằm trong một con hẻm nhỏ trên đường Phan Đăng Lưu, đoạn gần ngã tư với đường Thích Quảng Đức (quận Phú Nhuận). Quán bắt đầu bán từ những năm 70 của thế kỷ trước, được rất nhiều người biết đến bởi loại bánh đúc ngon, giá cả bình dân. Người ăn có thể thưởng thức tại quán hoặc mua hộp mang về.

< Món bánh đúc dân dã này được chan nước mắm ngọt, nhiều hành phi cùng hỗn hợp thịt bằm. 16k/phần tại chỗ, 17k/phần mang về - Mở cửa: 2pm – 5:30pm (nghỉ bán vào ngày mùng 1 và 15 hàng tháng).

Quán bình dân nhưng chất lượng món ăn ngon. Bánh đúc ở đây hấp dẫn bởi màu bánh vàng mơ, đúc nóng được múc vào chén, cho vào một ít nhân thịt băm xào với mộc nhĩ, hành tây và hành phi. Một chén bánh đúc nóng, thêm vào nước mắm và ớt xay nữa, vậy là đã đủ đánh thức bao tử của bạn.
Bánh mềm, nhân thơm và nước mắm ngon, tất cả hòa quyện thật nhuần nhuyễn mang lại vị ngon khó tả và không cảm thấy ngán.

Bánh mì Hòa Mã, ký ức bánh mì Sài Gòn

Trong suy nghĩ của nhiều người, bánh mì là thức ăn nhanh, phù hợp với cuộc sống vội vã. Nhưng trong một con hẻm nhỏ ngay giữa trung tâm Sài Gòn (Quận 3), vào mỗi buổi sáng, rất nhiều người tìm đến đây, ngồi trên những chiếc ghế cũ kỹ, chậm rãi thưởng thức một phần bánh mì thập cẩm trước khi bắt đầu cho một ngày mới.

Tiệm nhỏ xíu, xập xệ, bảng hiệu cũ kỹ đã nhuốm màu thời gian nhưng chất lượng bánh mì thì vẫn nguyên hương vị như những ngày đầu. Thành phần của bánh mì ở đây không có gì đặc biệt, cũng ốp la, chả lụa, thịt nguội, pate, đồ chua,... nhưng thay vì cho vào trong ổ bánh mì thì tất cả được chiên vàng trên một chiếc chảo nhỏ nên luôn đảm bảo độ nóng giòn và thơm ngon cho thực khách.

Đã hơn 50 năm, bảng hiệu của quán đã phai màu thời gian, bà chủ ngày ấy giờ đã ngoài 80 tuổi, nhưng ngày qua ngày, vẫn đứng đó thái thịt, chả,... những công việc đã cũ, quen thuộc với thời gian.

Bột chiên Phùng Khắc Khoan

Chủ nhân quán vỉa hè này là một đôi vợ chồng già ngoài 60 tuổi, hai ông bà đã gắn bó với xe bột chiên suốt gần 30 năm qua. Không hàng quán, chỉ đôi ba chiếc bàn được dọn trên vỉa hè ngay góc đường Phùng Khắc Khoan – Điện Biên Phủ (quận 1), chiếc xe bột chiên cũ kỹ như chính tuổi đời của hai vợ chồng.

Cũng như bao xe hàng rong khác ở Sài Gòn, bột chiên ở đây có đầy đủ các thành phần như bột, trứng, đu đủ bào sợi và nước tương. Bột pha với một công thức riêng nên bột chiên xong có màu trắng đục, giòn bên ngoài, mềm bên trong mà không bở. Đĩa bột chiên bắt mắt, thơm phức với màu vàng của trứng, màu trắng đục của bột, bên trên là màu xanh của hành lá, màu trắng của đu đủ thái sợi. Chén nước tương làm món ăn thêm đậm đà và thơm ngon.

Trong những thực khách thường xuyên đến ăn, có rất nhiều người diện quần áo sang trọng, đi xe hơi.

Bánh cuốn Tây Hồ: 50 năm một hương vị

Người Sài Gòn cũng không lạ gì bánh cuốn Tây Hồ khá nổi tiếng ở Đinh Tiên Hoàng. Thương hiệu bánh cuốn Tây Hồ đã được thành lập từ năm 1961 do công cụ bà Trần Thị Cà  (1919 - 1996), bí quyết món ăn đã được truyền từ những công thức đặc biệt của gia đình.

Hương vị độc đáo từ món bánh cuốn truyền thống kết hợp với gia vị đặc biệt gia truyền, sẽ mang đến cho bạn cảm giác ngon miệng và khác lạ, không gian nhà hàng thoáng mát, lịch sự, cách trang trí các khu vực tầng khác nhau từ truyền thống đến hiện đại. Nếu bạn là người sành về ẩm thực hay muốn tìm một nơi để thưởng thức các món ăn mới lạ hay thư giãn thì sẽ rất phù hợp.
Tuy nhiên giá cả ở quán này khá cao so với mặt bằng chung nhưng bù lại thực đơn rất phong phú và lạ.

Phở Hòa Pasteur

Tọa lạc trên con đường nổi tiếng  ở TP.HCM, Phở Hòa Pasteur là một trong những quán phở được người dân thường tìm đến để dùng điểm tâm sáng, bữa ăn trưa và ngay cả bữa ăn tối. Phở Hòa Pasteur được hình thành từ những thập niên 60-70 của thế kỷ trước, cho đến nay là hơn 40 năm.

Khi đến đây, ngoài khung cảnh tấp nập, nườm nượp khách ra vào, chúng ta còn có thể ngửi được hương vị thơm lừng, nức mũi rất đặc trưng. Phở Hòa Pasteur mang một nét riêng độc đáo với tô nước dùng vừa trong, vừa ngọt, cái ngọt nhẹ nhàng của những ống xương được ninh kỹ kèm với gia vị cùng những sợi bánh phở cán mỏng, dai dai, những lát thịt tươi ngon và đĩa rau thơm.

Tất cả hòa quyện tạo nên một tô phở cực kỳ hấp dẫn. Có chứng kiến công đoạn nấu lên một tô phở, chúng ta mới có thể thấy được sự tỉ mỉ, tinh tế của người đầu bếp từ cách chọn nguyên liệu cho đến việc nêm nếm và trang trí món ăn.

Sự thành công của Phở Hòa Pasteur không chỉ nằm ở bí quyết riêng của món phở mà còn trong phong cách phục vụ chuyên nghiệp, nhiệt tình, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng. Khung cảnh bên trong được thiết kế với lối kiến trúc giản dị, những đôi đũa, chiếc muỗng, cái chén được sắp xếp ngăn nắp, hợp vệ sinh cùng không khí thoáng mát, sạch sẽ với nụ cười nở trên môi của đội ngũ nhân viên luôn đem lại cho thực khách sự an tâm, thoải mái, vui vẻ khi ghé quán.

Có lẽ sẽ không có gì ngạc nhiên nếu bạn bắt gặp hình ảnh của những thực khách quốc tế như: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Hàn,… đang say sưa thưởng thức tô phở nghi ngút khói tại đây vì đã từ rất lâu, Phở Hòa Pasteur dường như là địa chỉ quen thuộc của họ khi đến Việt Nam.

Mì vịt tiềm* Phan Đình Phùng

Mì vịt tiềm không thiếu ở Sài Gòn, nhưng với những thực khách sành ăn thì quán mì ở góc đường Nguyễn Trọng Tuyển – Phan Đình Phùng (quận Phú Nhuận) là địa chỉ quen thuộc không thể bỏ qua.

Quán có tên là Huê Viên, ra đời vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Đến nay, mì vịt tiềm của quán vẫn giữ nguyên được chất lượng cũng như hương vị gia truyền, giúp quán thu hút rất đông thực khách vào mỗi buổi chiều tối. Phần thịt vịt trong bát mì được nhiều người ưa thích. Vịt sau khi làm sạch được ướp với các gia vị phụ như hạt sen, táo tàu, đinh hương, quế… thêm một ít nước tương và mật ong để có màu và thơm ngon. Sau khi thấm gia vị, vịt được chiên giòn bên ngoài rồi hầm cho chín mềm.

Bên cạnh phần vịt tiềm, bát mì cũng thơm ngon với những sợi mì tươi được làm từ trứng, màu vàng rất bắt mắt. Khi ăn, bạn cảm nhận được sợi mì mềm, dai rất ngon miệng, bên cạnh đó là những cọng cải ngọt giòn giòn tạo cảm giác không ngấy.

Xôi Tám Cẩu

Nằm ở góc đường Điện Biên Phủ và Cao Thắng. Q3. TP.HCM, có một xe bán xôi nhỏ, khách hàng là học sinh, sinh viên cán bộ công chức, người lớn tuổi tới mua.

Khách hàng nhớ xôi Tám Cẩu vì cái hương vị thơm thơm dẻo dẻo của hạt nếp, và cái béo béo mặn mặn của thịt heo,… đây chính là hương vị đặc trưng của quán xôi này.

Để có một nồi xôi khác biệt với các nơi khác đòi hỏi rất công phu, xôi ở đây vừa mềm, vừa dẻo do được nấu hai lửa, công đoạn cho nước dừa vào nồi xôi cũng phải đúng lúc nồi xôi mới thơm ngon. Ăn xôi tám cẩu mà quên món thịt heo luộc ăn cùng thì mất ngon một nửa.

Để có được những miếng thịt như vậy người nấu phải chọn được thịt nách và ba rọi còn tươi, mang về ướp muối với tỏi, sau đó luộc phải canh thời gian chính xác để vớt thịt ra. Chính vì những cách nấu công phu như vậy, đã làm cho xôi Tám Cẩu nổi tiếng khắp nơi và tồn tại cho tới ngày nay.

Quán chè 70 năm tuổi

Ra đời từ những năm 30 của thế kỷ trước, quán chè Châu Giang còn có tên gọi bình dân khác là chè "nhà đèn", địa chỉ quen thuộc của những người mê chè người Hoa.

Nằm lọt thỏm trong khu thương xá Đồng Khánh (Quận 5) ngập tràn những cửa hiệu thời trang sầm uất, quán chè ở đây cứ lặng lẽ tồn tại như thách thức những thay đổi của cuộc sống. Tuổi đời của quán đã hơn 70 năm, trải qua bốn thế hệ chủ nhưng vẫn giữ được chất lượng thơm ngon của món ăn như những ngày đầu. Thời gian mở cửa hàng ngày của quán cũng không thay đổi, vẫn là 4h chiều và kết thúc vào lúc 12h đêm, đều đặn trong suốt gần thế kỷ.

Thực đơn quán có hơn 20 món chè đặc trưng của người Hoa. Từ những món quen thuộc như: sâm nổ lượng, chè mè đen, chè trôi nước... đến các món lạ như quy linh cao, chè hạnh nhân, chè bạch quả hay hột gà trà... tất cả đều thơm ngon và bổ dưỡng.

* Quán mì vịt tiềm dạng thâm niên tại SG có khá nhiều và đều nổi tiếng, đông khách. Ví dụ như trên đoạn đường Đinh Tiên Hoàng (Q1) đến cầu Bông, mì vịt tiềm Hoàng Diệu (Q4), quận 8 thì mì vịt tiềm trên đường Tuy Lý Vương, quận 10 thì trên đường Nguyễn Tri Phương...

Du lịch, GO! tổng hợp

Đọc tiếp

Đảo Trà Bản - Quảng Ninh.

Đảo Trà Bản thuộc xã Bản Sen, huyện đảo Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh. Đảo cách thành phố Hạ Long 45km, cách đất liền 12km. Diện tích khi triều ròng nhất 81,20km² khi triều cao nhất 68km².

< Đảo Trà Bản với đỉnh Nàng Tiên cao nhất. Trạm radar 485 trên đảo Trà Bản là nơi có đài radar đối hải cao nhất miền Bắc, nằm ở độ cao 484m.

Điểm cao nhất trên đảo hơn 480m với độ cao trung bình 20m. Tháng nóng nhất (tháng 7) 28,6²°C, tháng lạnh nhất (tháng 1) 15,1²°C. Đảo có một số thung lũng khá lớn tạo nên các hồ chứa nước tự nhiên ở phía Tây của đảo nên quanh năm có nước ngọt, đủ dùng cho dân cư tại đây.

< Đường đê trên đảo Trà Bản.

Đây là đảo lớn nhất trong hàng trăm hòn đảo trong vịnh Bái Tử Long, cách đảo Quan Lạn và cảng Vân Đồn không xa và ở vị trí tiền tiêu và che chắn cho thương cảng Vân Đồn: cảng lớn nhất Đại Việt thời nhà Trần. Tàu buôn thời ấy của người phương Bắc hay Cao Ly muốn vào Vân Đồn bắt buộc phải đi ngang qua Trà Bản. Vì đảo có đất, có nước ngọt nên từ thời ấy đã có dân cư sinh sống.


< Trường PTCS Bản Sen được xây dựng khang trang giữa đảo Trà Bản.

Thực vật trên đồi núi đất có lim xanh, trâm, trám xen kẽ tre, nứa; vùng ngập mặn có sú, vẹt. Động vật trên cạn có cầy hương, khỉ vàng, sóc, sơn dương, hoẵng, lợn rừng, rái cá... nhưng bị săn bắt nhiều nên hầu như không còn. Trên đảo có điểm quặng sắt Diềm Xá (phát hiện 1966), đá vôi, tectit (đá quý).

Trước kia, nhờ có nước ngọt quanh năm nên dân đảo ngoài cấy lúa còn phá đất trồng cam, quít, chè...

< Rừng xanh, nước cũng trong xanh...

Bây giờ thì nông nghiệp bị thu hẹp, một phần dân kiếm sống bằng nghề đi biển, nhà có vốn lập bè nuôi trồng thủy sản, một phần làm dịch vụ buôn bán nhỏ và một phần nhận khoán rừng trồng cây lấy gỗ.

Hầu hết dân trong xã đều thừa nhận hơn chục năm trở lại đây, cuộc sống của họ có thay đổi theo chiều hướng khá hơn, giao thông không còn khó khăn với con đường đất hẹp và lầy trơn vào ngày mưa như trước, thay vào đó là đường bê tông rộng rãi.

Đảo có trường tiểu học và trung học cơ sở cao hai tầng được khánh thành khiến xã có dáng dấp của một thị tứ trong đất liền. Đoạn sông nhỏ chảy từ núi xuống theo hướng Nam - Bắc được kè đá một bên, khi nước thủy triều dâng, thuyền nhỏ ra vào tạo nên khung cảnh khá hữu tình.

Miếu thờ 3 đức ông công chánh họ Phạm dưới chân núi. Xưa miếu khá to, quanh năm hương khói vì ai đi biển đánh cá hay lên rừng săn bắn đều ghé miếu thắp hương mong Ông che chở.

< Vườn rau của lính biên phòng.

Sở dĩ miếu thờ cả ba anh em họ Phạm vì thời nhà Trần, ba ông đã phò Phó tướng Trần Khánh Dư tả xung hữu đột cùng quân Đại Việt đánh chìm 500 chiến thuyền chở lương thực của viên tướng Trương Văn Hổ tiếp tế cho quân Thoát Hoan trên dòng sông Mang ở đảo Quan Lạn. Giặc tan, mỗi ông đến một đảo khai canh nên dân lập miếu thờ. Xã Bản Sen xưa cũng có đình thờ thành hoàng là Trần Khánh Dư, theo những người cao tuổi hiện sống trên đảo thì đình to và rộng nhưng do quan niệm một thời không đúng về đình chùa nên đã bị phá bỏ. Tuy nhiên Trà Bản không có chùa.

Trạm ra đa nằm trên đỉnh núi cao nhất đảo với độ cao 485 mét so với mặt nước biển. Rất nhiều phóng viên trong đoàn từng đi công tác khắp các vùng miền Tổ quốc, từ núi cao đến hải đảo ở Trung bộ và Nam bộ đều thừa nhận: con đường lên trạm ra đa này là khó khăn và vất vả nhất bởi lẽ khí hậu ở đây quanh năm ẩm ướt, nên các phiến đá lúc nào cũng trơn, sơ sảy là trượt chân ngã ngay.

< Bảo quản radar trên đỉnh núi.

Lên trạm, mới thương anh em, thương không phải họ thiếu lương thực, thực phẩm mà thương vì các chiến sĩ quanh năm sống trong ẩm ướt. Chập tối chiếc chăn còn nhẹ nhưng đến sáng thì nó nặng hơn rất nhiều vì hơi nước đọng lại, kể cả ngày nắng chiếu cũng không bao giờ khô cong, quần áo lúc nào cũng ẩm vì thế sáng ra các anh phải hong ra ngoài trời. Nếu hút thuốc lá thì được nửa điếu là hơi nước làm ướt giấy. Sống trong ẩm ướt lâu cũng quen.

Thế nhưng với khí tài thì các anh luôn bảo quản cẩn thận và lúc nào cũng hoạt động tốt 24/24h để bảo đảm rằng tất cả những điều bất thường trên hải phận thiêng liêng của Tổ quốc đều không qua được mắt các anh.

Du lịch, GO! tổng hợp

Đọc tiếp

Những đứa trẻ ở vùng cao

(ĐVO) - Đông Bắc trong chuyến phượt của chúng tôi là một Đông Bắc đẹp như huyền thoại với ruộng bậc thang, núi đồi chập chùng; những cung đường đèo huyền thoại; nhưng cũng buồn đến nao lòng với ánh mắt chơ vơ của trẻ em miền núi.
Không quần áo, không đồ chơi, không lớp học, không sách vở,… và vô vàn những số 0 khác là thực trạng của các em nhỏ vùng cao Đông Bắc - Tây Bắc Việt Nam.

Đi qua vùng Đông Bắc huyền thoại

Từ Hà Nội, chúng tôi chinh phục 300km đầu tiên dọc sông Lô để đến Hà Giang. Bắt đầu từ những con đường thẳng, rồi cong cong, rồi cua quẹo. Rồi lại tiếp tục vượt đèo Pắc Sum về Quản Bạ.

Những vòng “cua” cứ không thôi lên xuống và lượn thành những đường zic-zắc đến chóng mặt. Vừa vượt qua được đèo Pắc Sum, những tay phượt nghiệp dư như chúng tôi cảm thấy “choáng ngợp” thật sự. Tuy nhiên, đây chỉ là con đèo vào loại “thường thường bậc trung”.

Chúng tôi dừng chân ngắm nhìn những ngọn núi cao, những dãy ruộng bậc thang vào mùa lúa chín đẹp đến mê người. Men theo con đường đất nhỏ leo những con dốc, hai bên là đồng lúa chín vàng. Trên con đường mòn đó, thỉnh thoảng xuất hiện vài đứa trẻ lùa trâu ra đồng. Bên sườn đèo, một cậu bé chừng 7 tuổi ngồi chơ vơ một góc cánh đồng bên đàn trâu đàn gặm cỏ. Cảnh đẹp và thanh bình nhưng cũng buồn đến nao lòng.

Ở đây hiếm khi thấy mặt trời. Nếu có nắng cũng chỉ ươm ươm để tô điểm thêm cho những ruộng lúa vàng của người dân tộc.

Chúng tôi tiếp tục vượt dốc cao Phố Cáo, về Sủng Là tham quan ngôi nhà cổ người Mông – nơi quay bộ phim Chuyện của Pao, sau đó tiếp tục len lỏi giữa những vách núi để tham quan cực Bắc Lũng Cú – bờ phên liếp dậu của Tổ quốc. Trên tháp cột cờ nhìn xuống, những vuông đồng mênh mông xanh vàng được che chở bởi những rặng núi.

Những đứa trẻ chừng 7 – 8 tuổi, người lem nhem ướt vì sương sớm. Từ sang tinh mơ các em đã lùa trâu ra đồng. Nhiều em phải bận them áo mưa để chống ướt, chống rét. Trời lạnh căm và mưa ẩm ướt, một em trai chừng 4 tuổi lại đi chân đất lấm lem. Em là đứa nhỏ nhất mà chúng tôi gặp trên đường. Con mắt ngơ ngác nhìn, khuôn mặt bầu bĩnh đỏ hồng có chút lấm lem. Ngay cả quần cũng không buồn mặc, mặc cho cái lạnh cứ ngấm dần vào da thịt.

Em hầu như không phản ứng gì với những câu hỏi của chúng tôi (có thể các em không hiểu rõ tiếng Kinh), thỉnh thoảng em cất tiếng dân tộc be bé trong miệng. Đến khi tôi bảo em giơ tay ra cho kẹo thì em nhanh chóng xòe hai bàn tay, rồi nhét vội vào túi, sau đó thì lủi thủi men theo bờ đê băng qua những cánh đồng, bỏ lại chúng tôi với khoảng trống chơi vơi.

Chúng tôi lại lên đường, vượt đèo Ma Lé. Trước mặt là những khúc cua hiểm trở, chỉ cần người lái không tập trung một chút là có thể nghe “tiếng kêu xa dần” ngay.

Sáng hôm sau, chúng tôi vượt đệ nhất đèo Mã Pì Lèng ôm trọn dòng Nho Quế để về Mèo Vạc. Thực ra, Mã Pì Lèng chỉ có 9 khúc cua, không quá hiểm trở, nhưng cái lo lắng nhất của cánh xe tải khi qua đèo này chính là những vực sâu.

Đèo Mã Pì Lèng là cung đường chạy dài 20km uốn quanh đỉnh núi Mã Pí Lèng cao 2.000m, nối liền thị xã Mèo Vạc với Đồng Văn. Đoạn đèo này nổi tiếng với những cung đường uốn lượn như con rắn vắt mình từ ngọn núi này sang ngọn núi khác.

< Chống rét bằng cách quấn nylon.

Con đường chạy qua đèo Mã Pì Lèng có tên gọi là đường Hạnh Phúc. Đi dọc con đường Hạnh Phúc là những hồ treo trữ nước để bà con đồng bào dân tộc sinh hoạt vào  mùa khô. Để làm được con đường này, đội cảm tử mở đường đã phải treo mình suốt 11 tháng trên vách núi để đục đá mở ra con đường công vụ rộng chỉ vẻn vẹn 40cm. Chính vì vậy, Mã Pì Lèng xứng với tên đệ nhất đèo không hoàn toàn vì độ hiểm trở mà vì ý nghĩa lịch sử của nó.

Nhớ nụ cười trong veo, ánh mắt buồn của trẻ thơ

Băng qua những ngọn núi hoang vu, thỉnh thoảng cũng gặp đồng bào dân tộc chạy xe máy trên đường. Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi ngạc nhiên hơn cả là giữa ngun ngút đèo, một bên là vách núi, một bên là vực sâu nhưng vẫn thấy những em bé dân tộc Dao, Mông hay Thái gánh trên lưng khi thì củi, khi thì rau cỏ đi chiều ngược lại.

Không biết mỗi ngày các em phải đi bao xa khi thân hình nhỏ xíu của các em còn to hơn những ngôi nhà chúng tôi được nhìn thấy ở phía xa.

< Chống rét bằng áo mưa.

Cùng một lứa tuổi ấy, cùng những đôi mắt ngây thơ ấy, nhưng cuộc sống xung quanh những đứa trẻ miền núi khác xa với trẻ em đồng bằng. Đó là con đường đến trường dốc núi cheo leo, là sân chơi thênh thang của triền ruộng, con suối, là cây cỏ, khoảng trời mênh mông, là những gùi củi nặng trĩu trên vai, là những bữa cơm không đủ ấm bụng,...

Dừng chân trên đỉnh Mã Pì Lèng, đỉnh đèo là một trong những điểm quan sát toàn cảnh vào loại đẹp nhất ở Việt Nam, chúng tôi lại bắt gặp những ánh mắt trẻ thơ đau đáu một nỗi buồn. Khi chúng tôi bắt chuyện, các em chỉ cười, rồi quơ tay như cho chúng tôi biết các em đang phải canh chừng đàn dê đang gặm cỏ ở sườn đèo. Những chiếc áo mưa được các em “trưng dụng” quấn quanh người để chống ướt, chống rét.

Trẻ em vùng cao thiếu thốn toàn diện, từ cái cơ bản nhất của cuộc sống như cơm ăn, áo mặc cho đến những cái mà bất cứ trẻ em nào cũng có quyền: đi học, vui chơi. Những mùa đông lạnh tím bầm tay chân với chiếc áo mỏng manh và đôi chân trần.

Chạy dọc cung đường này, chúng tôi lại bắt gặp những đứa trẻ đang ngồi với nhau bên đường. Gọi là ngồi với nhau vì không thể nói là chúng đang chơi với nhau được. Không có gì bên cạnh có thể gọi là đồ chơi. Quanh chúng chỉ là vài ba hòn sỏi như được đặt để sẵn từ lâu lắm, và trò chơi của chúng cũng chỉ là trò "nhìn người đi qua" như bao đứa trẻ khác.

Trước khi bắt đầu cuộc hành trình, chúng tôi mỗi người đều mang theo vài ba bịch kẹo. Có khi vừa mới thấy một hai em bé đứng chơ vơ ở lưng chừng đèo, trong lúc chúng tôi loay hoay mở túi kẹo, ngước lên đã thấy một "đội quân nhí" đổ ào từ trên triền núi xuống theo những con đường mòn rất nhỏ, mà người lạ rất khó nhận ra.

Khách du lịch miền xuôi đến với Tây Bắc thường mang theo rất nhiều kẹo, bởi như một "luật bất thành văn", họ biết rằng cho tiền đồng nghĩa với làm hư những đứa trẻ nơi đây. Đối với khách du lịch lần đầu tiên đến, họ rất thích thú khi được ghi lại những khoảnh khắc bên những em bé người dân tộc. Vì vậy như thành lệ, các em bé ở đây dường như hiểu rằng: Nhận kẹo và nhìn vào ống kính. Sau khi nhận kẹo, các em trở về chốn cũ.

Đoàn người đi qua, bỏ lại những em bé hồn nhiên ngơ ngác và mang theo những băn khoăn nằng nặng. Chúng tôi khó có thể lãng quên những ánh mắt, những nụ cười của những đứa trẻ ở đây. Chính các em đã dạy chúng tôi biết yêu thương và sẻ chia nhiều hơn.

Chứng kiến hoàn cảnh của những em bé co ro đói khát trong lạnh giá vùng cao, không ai trong chúng ta không khỏi chạnh lòng, nhất là khi những ngày Tết đang đến rất gần, khi mà người người nhà nhà quây quần ấm áp no đủ thì nơi đây các em phải cùng gia đình vật lộn với cuộc sống hàng ngày, hàng giờ.

Lạnh lắm các chú ơi!

Theo Tây Phương (Báo Đất Việt)
Du lịch, GO!

Đọc tiếp

Hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ

“Khèn lá rung rinh gọi bạn xa/ Soóng Cọ thấp thoáng bay la đà/ Đi tìm ai trong câu hát đối?/ Lòng bâng khuâng xao động bồi hồi...”

< Lễ hội Soóng Cọ được tổ chức hàng năm.

Hàng năm cứ vào ngày 15, 16 tháng 3 (Âm lịch) người dân Sán Chỉ ở Bình Liêu và một số vùng lân cận như Ba Chẽ, Tiên Yên lại rủ nhau về xã Húc Động (huyện Bình Liêu) để tham gia Lễ hội hát Soóng Cọ lớn nhất trong năm. Với những ai yêu thích loại hình du lịch văn hoá, được tham gia vào lễ hội này mới thấy hết nét đẹp văn hoá đặc trưng, những lời ca da diết của những nghệ nhân và những đôi trai gái đang yêu...

Soóng Cọ là phát âm theo tiếng Sán Chỉ ở Bình Liêu, có nghĩa là ca hát, hát xướng, giao duyên. Đây là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian nhằm thể hiện và giao lưu tình cảm giữa các nhóm cộng đồng Sán Chỉ và thường thì nó diễn ra quanh năm, bất cứ khi nào có dịp, với nhiều dạng thể hiện như hát chúc tết, hát mừng đám cưới, mừng nhà mới, hát trao đổi tâm tình, giao duyên. Đó là cách hát đối gồm một bên nam, một bên nữ đối diện và có thể cùng một lúc có nhiều tốp hát đối với nhau. Đây cũng là dịp để các đôi nam thanh, nữ tú kết bạn và tỏ tình cùng nhau, gửi gắm những tâm sự. Bên cạnh đó họ còn truyền cho nhau những kinh nghiệm trong lao động sản xuất cũng như trong cuộc sống…

Hát Soóng Cọ là một hình thức diễn xướng bao gồm những khổ thơ thất ngôn tứ tuyệt (mỗi khổ thơ gồm 4 câu, mỗi câu 7 tiếng), giống như hát Sli-lượn của các dân tộc Tày, Nùng hay hát ví của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Thông qua lối hát Soóng Cọ, người trẻ có thể giao lưu học hỏi lẫn nhau; đôi lứa đang yêu thì dùng lời hát thể hiện tình cảm tâm tư của mình đến với người mình yêu, còn người già trong thôn bản dùng lời hát để răn dạy con cháu về công ơn nuôi dưỡng, sinh thành của cha mẹ, kinh nghiệm đối nhân xử thế…

Hát Soóng Cọ là hình thức sinh hoạt văn hoá có tính cộng đồng rất cao, thường được tiến hành trong dịp lễ hội, kết hợp với các trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, chơi đu, đan phên gánh mạ, đẽo đòn gánh... Khi hát, người hát sử dụng ngôn ngữ địa phương và trang phục truyền thống không chỉ tạo được nét văn hoá đặc trưng mà còn góp phần truyền bá ngôn ngữ, khuyến khích mọi người tìm hiểu những cái hay, những cái đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc mình và học tập.

Hát Soóng Cọ có những quy định riêng như không hát với người cùng huyết thống, cùng gia đình (dâu, rể). Với thể thức đối đáp, Soóng Cọ được thể hiện với hai tốp nam và nữ. Khi cất lên những câu hát đầu tiên, các bên hát bắt buộc phải có những lời hát mời. Sau các hồi hát chung, các cặp hát hợp nhau hoặc có những ý tình riêng có thể tách ra hát riêng và họ có thể hát tới sáng.

Soóng Cọ là cả một niềm vui, niềm tự hào của người Sán Chỉ. Và quan trọng hơn hết, nó là “sợi dây” để gắn kết cộng đồng. Thế nhưng, thanh niên ngày nay có quá nhiều thứ để xem, để nghe và chơi, nên nhiều người không mặn mà lắm với việc hát Soóng Cọ. Đó là một thực tế khiến những người đã và đang giữ hồn Soóng Cọ cảm thấy buồn.

Hát Soóng Cọ chủ yếu được truyền miệng nên nhiều bài, nhiều ca từ đã bị thất lạc. Vì vậy, giữ gìn và phát huy những lời ca Soóng Cọ là hết sức quan trọng.

Với nỗ lực bảo tồn, từ năm 2006 đến nay, hàng năm, huyện Tiên Yên đều tổ chức Lễ hội Sán Chỉ vào các ngày 13, 14 tháng Giêng. Hai xã Đại Dực và Đại Thành, nơi tập trung đông người Sán Chỉ của huyện, sẽ luân phiên đăng cai tổ chức lễ hội này. Ngoài hát Soóng Cọ, trong lễ hội còn có các hoạt động thể dục thể thao như đánh quay, kéo co, ném còn, đẩy gậy, thi giã bánh dầy, thi gói bánh, thi nấu xôi 7 màu... rất vui, thu hút được nhiều người tham gia. Lễ hội cũng là dịp để người dân tộc Sán Chỉ nhắc nhở lớp con em biết tự hào về bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc mình.

Ông Đặng Văn Ba, Phó Chủ tịch UBND xã Đại Dực, cho biết: “Tháng 11 vừa rồi, CLB hát Soóng Cọ đã được thành lập tại xã Đại Dực. Đến nay CLB đã có gần 20 thành viên tham gia. Mỗi tháng, CLB tổ chức sinh hoạt một lần, ở đó các làn điệu Soóng Cọ truyền thống sẽ được các thành viên trong CLB cùng nhau hát ôn lại. Còn dịp hè năm 2012 vừa rồi, xã chúng tôi cũng đã tổ chức lớp học hát Soóng Cọ cho thiếu nhi”. Ông Ba cho biết thêm: “Các bài hát Soóng Cọ cổ mà các bậc cao niên trong bản vẫn còn nhớ thì được chúng tôi sưu tầm và ghi lại. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn hẹp nên công tác sưu tầm và bảo tồn Soóng Cọ còn nhiều khó khăn lắm. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục sưu tầm các bài hát Soóng Cọ để sau này có điều kiện thì in ấn thành sách hoặc thu thành băng đĩa để tiện việc lưu truyền”.

Theo báo Quảng Ninh
Du lịch, GO!

Đọc tiếp

Bình minh dạo biển Rạng

(CTO) - Rạng là địa danh quen thuộc ở miền Trung. Ở Bình Thuận, biển Rạng được biết đến như một ranh giới giữa thiên nhiên hoang dã với những resort hiện đại. Ở nơi đó, hiện vẫn còn một làng chài nhỏ, lâu đời của người dân bản địa.

< Bình minh trên bãi Rạng - Mũi Né (Phan Thiết).

Biển Rạng nằm cách thành phố Phan Thiết khoảng 15 cây số về hướng Đông Bắc. Người dân địa phương thường gọi là Rạng hoặc Bãi Rạng. Chỉ có du khách mới gọi là biển Rạng. Đó là nơi có nhiều rạn san hô đã chết, hóa đá hoặc những bãi đá ngầm chìm trong nước.

Đây là đặc điểm của nhiều bãi Rạng ở miền biển. Nhưng bãi Rạng ở Bình Thuận lại khác: xen lẫn trong những bãi san hô, bãi đá là những bãi biển đầy cát vàng lộng lẫy. Đó là lý do tại sao nhiều du khách tìm đến bãi Rạng để tắm biển và tận hưởng không gian nơi này…

Bình minh biển Rạng tuyệt đẹp. Nhiều du khách thích đi bộ dọc theo bãi biển, ra khỏi các khu resort để ngắm cảnh. Từ mờ sáng, những chiếc thuyền con, thuyền thúng vào gần bờ chở đầy cá, mực, ghẹ...

Thuyền thúng chèo vào bờ, hai ngư phủ đứng "gánh" ở hai đầu, xoay tròn thúng rồi mới kéo lên bờ cát. Các ngư phủ khác tiếp sức đẩy thuyền thúng lên. Dạo biển chụp ảnh nhưng nhiều du khách cũng thích thú tiếp sức cùng ngư phủ đưa thúng lên bờ, rất vui.

Làng chài bãi Rạng hiện không còn nhiều dân do phần lớn đã di dời khỏi khu vực này để nhường chỗ cho dịch vụ du lịch. Bãi biển Rạng rộng rãi và thông thoáng. Mỗi lần đến đây, chúng tôi đều thức sớm để ra biển. Khi bầu trời vừa ửng hồng chuyển từ đêm sang ngày là lúc bạn có thể chuẩn bị chụp những bức ảnh đẹp, ghi lại thời khắc chuyển giao của đất trời.

Du khách đi biển Rạng buổi sớm, thường ai cũng máy ảnh trên tay. Nhiều du khách trong và ngoài nước dù đêm qua thức khuya để vui chơi nhưng cũng ra biển từ rất sớm. Họ thích thú chụp hình, trò chuyện với ngư dân bằng tiếng Việt hoặc qua phiên dịch. Sinh hoạt của làng chài trở thành chủ đề sáng tác của du khách. Họ mải miết chụp hình. Có người nằm sóng soài trên mặt đất để chụp những bức ảnh ưng ý.

Giữa những tiện nghi, hiện đại của các khu resort, làng chài bãi Rạng như một điểm nhấn của văn hóa biển, thú vị đối với du khách. Hoạt động của ngư phủ chỉ kéo dài khoảng 2 tiếng trên bờ biển. Cá vừa thu hoạch được chở đến các chợ làng, chợ nhỏ bán cho khách hàng. Sau đó, làng chài trở nên yên ắng.

Những ngư phủ nghỉ ngơi một chút thì ngồi vá lưới. Những đứa trẻ con vui đùa trên biển rất vô tư. Du khách tiếp tục có đề tài cho những bức ảnh gia đình, sinh hoạt của làng chài nhỏ. Người dân làng chài rất hiếu khách. Họ thoăn thoắt vá lưới để chuẩn bị cho ngày đánh bắt cá hôm sau nhưng vẫn có thể trò chuyện, trả lời những thắc mắc của du khách.

Đây thật sự là một không gian thư giãn thuần khiết thiên nhiên. Bãi Rạng rất cạn với bờ cát thoai thoải trải dài ra biển.

Tắm biển Rạng buổi sáng rất thú vị. Làn nước ấm áp vì đã hấp thụ năng lượng trong suốt ngày hôm trước. Trầm mình trong làn nước ấm buổi sớm, những mệt mỏi như tan biến. Trên bờ biển không ồn ào. Khách có cảm giác rất riêng tư và thoải mái. Sóng biển không quá lớn nhưng cũng không phẳng lặng, đủ để vỗ về, tạo âm thanh rất riêng của biển. Người ta có thể nằm hàng giờ trên bờ cát và nhắm mắt để lắng nghe khúc nhạc đó.

Du khách vẫn có thể tìm được tiện ích từ những dịch vụ xung quanh. Gần làng chài Rạng, có nhiều quán xá phục vụ các món ăn Âu, Á và Việt Nam phù hợp với mọi đối tượng.

Trở lại hướng thành phố Phan Thiết vài ba cây số là bãi đá Ông Địa. Đây là khu vực tâm linh của người dân miền biển. Sóng bào mòn khối đá vô tình thành hình hài như một Ông Địa trong tín ngưỡng dân gian. Người ta đã phát hiện ra khối đá đó rồi lập miếu thờ, xem đó như một vị thần linh. Khu vực bãi đá Ông Địa hiện đã thay đổi nhiều và trở thành điểm dừng chân ngắm cảnh, tắm biển của du khách. Phía trên là một khu biệt thự nghỉ dưỡng đang được xây dựng nhìn ra mặt vịnh.

Từ biển Rạng, di chuyển 30 phút, khách đã đặt chân đến các đồi cát, danh thắng đẹp của thành phố biển Phan Thiết và khám phá những nét văn hóa đa dạng của người dân miền biển. Từ thời cổ đại, đã có cư dân sinh sống tại vùng đất này nên vẫn còn đó những dấu tích để khách tò mò tìm hiểu. Khách đừng quên ghé lại cụm tháp Phú Hài để khám phá nét đẹp của văn hóa Chăm.

Theo Vĩnh Bảo (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Đọc tiếp

Ruộng bậc thang Chuôr

Ai đã từng đến huỵên Tây Giang của tỉnh Quảng Nam, chắc đã có dịp chiêm ngưỡng cảnh ruộng bậc thang - một kiến tạo thay đổi thiên nhiên tuyệt đẹp của đồng bào Cơ Tu ở thôn Arầng, xã A Xan, H. Tây Giang, Quảng Nam. Tại độ cao 1.260m so với mực nước biển, cánh đồng Chuôr hút mắt khách phương xa với màu xanh ngắt, đẹp lạ lùng giữa đồi núi trập trùng.

Ruộng bậc thang Chuôr nằm gọn trong một thung lũng thuộc 3 thôn Arầng 1, Arầng 2 và Arầng 3, xã AXan, đối diện với đồn BP Hiên 2 nằm trên tuyến đường từ xã AXan đi xã Ch’Om. Những thửa ruộng bậc thang này có từ hàng trăm năm nay giống như những bức tranh phong cảnh khổng lồ với những đường nét uốn lượn mềm mại và đều đặn

< Nhổ mạ chuẩn bị cấy.

Theo các già làng của xã Axan, ruộng bậc thang Chuôr hình thành vào thời gian nào thì không ai biết. Chỉ biết rằng trước kia, do nhu cầu và cuộc sống ngày càng phát triển, người Cơ Tu cổ từ chỗ chỉ biết hái lượm và săn bắn, đã biết phát nương làm rẫy, trồng cây lương thực.

Mà đất ở vùng này thì chỗ nào cũng có độ dốc cao, cho nên ruộng bậc thang đã ra đời và gắn bó với đồng bào từ đó cho đến nay.
Ruộng được chia thành những thửa ruộng vừa phải, có độ cao dần lên và được bà con kéo nước từ nguồn về để trồng lúa.


< Nông dân Cơ Tu làm đất trên cánh đồng Chuôr.

Càng về chiều, nắng trời như muốn đổ vàng xuống cả lũng núi. Tại đây, ruộng nằm lọt giữa sóng lúa vây quanh. Thật khó tìm thấy ở nơi này những khoảng đất bỏ hoang, hễ có đất là có ruộng bậc thang và lúa. Hình như những thửa ruộng bậc thang đa dạng có thể biến những ụ đất, rẻo đất xấu xí tưởng như vô dụng trở thành từng thửa ruộng đẹp như bức tranh thủy mặc...

Ruộng bậc thang Chuôr của người Cơtu vùng cao AXan này là tri thức dân gian của đồng bào dân tộc Cơtu từ bao đời, là kết quả của phương thức canh tác nông nghiệp từ xa xưa nhất mà tổ tiên, ông bà người Cơtu đã để lại cho thế hệ sau này.

Mỗi mùa thu hoạch lúa là mùa lễ hội mừng lúa mới để đồng bào tưởng nhớ đến công ơn của thần linh, giàng, đã giúp đỡ dân làng có được mùa thu hoạch bội thu và no đủ, thông qua các nghi thức cúng tế rất linh thiêng và trang nghiêm.

Trước khi thu hoạch lúa, đồng bào Cơtu nơi đây tổ chức lễ hội ăn mừng lúa mới, trong đó có lễ hội đâm trâu với các nghi thức cúng tế rất linh thiêng để đồng bào tưởng nhớ đến công ơn của thần linh, giàng giúp đỡ dân làng có được mùa thu hoạch bội thu, ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội mừng lúa mới còn phản ánh đời sống tinh thần của đồng bào. Chính vì thế văn hóa tinh thần của đồng bào Cơtu vùng biên gới AXan nói riêng và vùng biên Tây Giang nói chung mãi mãi được lưu truyền qua mỗi mùa lễ hội. Ruộng bậc thang Chuôr còn là điểm du lịch hấp dẫn trong bức tranh sắc màu của núi rừng Tây Giang, tạo nên một không gian sinh thái trong lành cho du khách trong và ngoài nước đến đây thưởng ngoạn...

Cung đường nối từ thị trấn Agồng (trung tâm huyện lỵ Tây Giang) về xã AXan khoảng 50km qua trùng điệp những ngọn đồi núi cao, hiện con đường này đang được BĐBP tỉnh Quảng Nam đầu tư, thi công san ủi mở rộng. Càng đi, con đường càng trở nên kỳ diệu, sẽ dẫn bạn vào một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ đẹp như tranh.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cả cánh đồng ruộng bậc thang Chuôr cũng đã góp phần không nhỏ trong việc cung cấp lương thực cho cán bộ, bộ đội ta.

Với vẻ đẹp độc đáo và ý nghĩa của nó, ngày 24-12-2010, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Phước Thanh đã ký Quyết định số 4334/QĐ-UBND xếp hạng ruộng bậc thang Chuôr là danh thắng cấp tỉnh.

Du lịch, GO!

Đọc tiếp