Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thăm chùa Địa Ngục

(iHay) - Hành trình ‘rùng rợn’ khám phá rừng Ma ao Dứa, chùa Địa Ngục ở Tam Đảo sẽ khiến những kẻ ham phượt phấn khích từ đầu đến cuối.

Với người Hà Nội, Tam Đảo là một địa điểm nghỉ dưỡng lý tưởng để nghỉ ngơi sau một tuần làm việc vất vả.

Không khí mát mẻ, trong lành nơi đây sẽ làm bất cứ cái đầu đầy khói bụi thành phố nào cũng được thư giãn và tái tạo sức sáng tạo một cách thần kỳ. Chẳng phải tự nhiên mà người ta còn ví Tam Đảo như một Sapa dưới đồng bằng.

< Những con đường dẫn đến chùa khi qua rừng rậm, lúc qua rừng trúc...

Tuy nhiên, dân bụi thì lại khác, họ không tìm chốn bình yên và mong ngóng nghỉ dưỡng ở thị trấn mà háo hức khám phá những điều bí mật ẩn sâu trong Vườn quốc gia Tam Đảo.

Từ Hà Nội, chỉ sau khoảng 2 giờ chạy xe là chạm đến khu vực Tam Đảo. Đi tiếp qua thị trấn, đến trạm kiểm lâm vườn quốc gia rồi gửi xe và bạn sẽ có một chuyến phiêu lưu mini đầy kỳ thú đến chùa Địa Ngục và rừng Ma ao Dứa.

< Chùa Địa Ngục bao quanh bởi rừng im lìm và đâu đó lất phất bùa yểm.

Hãy chuẩn bị hành trang gọn nhẹ để đi bộ qua  khoảng 12km đường rừng bắt đầu từ trạm kiểm lâm để đến Địa Ngục. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên vì hiếm có ngôi chùa nào mà đường đi vào lại khiến người ta cảm thấy lạnh sống lưng đến vậy.

Đường cứ hun hút dài, cứ lãng đãng như sương trước mặt và thiếu nắng làm cái rợn rợn lan trong không khí, trong từng tiếng vang của bước chân người nhịp đều. Không chỉ thế, trên những thân cây lại phấp phới những tờ bùa giấy vàng chữ đỏ càng làm khung cảnh thêm rờn rợn liêu trai.

< Đến chùa, bạn đừng quá ngạc nhiên vì vẻ đơn sơ của nó.

Cũng chính vì thế nên hiện nay, rất ít người biết tới ngôi chùa này. Có lẽ chỉ có dân bụi, dân phượt mới hứng thú với những khó khăn vất vả khi đi vào chùa mà thôi.

Tuy nhiên, đi qua những con đường mòn nhỏ hẹp, hai bên cây cối um xanh và vắng tiếng người, thừa tiếng của rừng. mỗi người sẽ tự chiêm nghiệm được nhiều thứ. Hết rừng trúc lại nối tiếp những cây gỗ lớn với tiếng chim, tiếng lá cây lạo xạo, tiếng thú di chuyển cũng cho bạn cảm giác gần thiên nhiên hơn bao giờ hết.

Người ta không biết chùa được xây cất từ năm nào nhưng theo cuốn Kiến Văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn mô tả thì chùa là một khối kiến trúc vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng một trượng, các tường bao quanh chùa đều bằng đá.

< Chùa có chiếc chuông nặng đến 2,2 tấn và chỉ vang tiếng 2 lần/ngày.

Thường ngày hai cánh cửa ra vào khóa kỹ bằng một khóa sắt lớn và trong khuôn viên có đặt viên đá ghi rõ: Địa Ngục tự (tức chùa Địa Ngục).

Chùa Địa Ngục không phải chỉ có cái tên ghê rợn mà không khí xung quanh cũng kỳ lạ. Có lẽ do được bao bọc bởi rừng cây, đường đến lại khó, ít khách vãng lai nên lặng lẽ và thâm trầm đến vậy.

< Chùa giữa rừng, vừa thâm trầm, vừa lặng lẽ nhưng vẫn rất thanh tịnh, hiền lành và sạch sẽ.

Nghe nói, chiếc chuông chùa ở đây có khối lượng 2,2 tấn, là một trong những chiếc chuông lớn nhất Việt Nam hiện nay. Và chuông chùa Địa Ngục chỉ vang lên hai lần mỗi ngày vào 19 giờ và 5 giờ.

Khi đến chùa mới biết những lá bùa là để yểm cho du khách đi đường an toàn, không lạc hồn giữa rừng Ma ao Dứa. Đến chùa sẽ được nghe nhiều chuyện ly kỳ và không kém phần rùng rợn về rừng Ma, ao Dứa. Cái thực thực hư hư càng làm cho khu rừng nơi đây có sức hấp dẫn lạ kỳ nhưng cũng làm người ta thấy e ngại và kiêng dè.

Không quá vất vả, không quá mất thời gian cho một cung trekking cuối tuần, Tam Đảo với chùa Địa Ngục, rừng Ma ao Dứa là một lựa chọn hợp lý cho các bạn ưa khám phá nhưng ít thời gian.

Phượt ký của Keeng (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Huyền bí nơi phát tích đạo Phật VN

Đọc tiếp

Đình làng Hòa Ninh

Từ thị trấn Ba Đồn ngược lên bến đò Cửa Hác, đi theo đường bờ đê về phía Tây chừng dăm cây số, khách vãng lai sẽ dễ dàng bắt gặp một công trình kiến trúc còn nguyên giữ nét thâm nghiêm, cổ kính. Đó chính là đình Hòa Ninh (Quảng Hòa, Quảng Trạch) - một công trình tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ tinh hoa của người dân vùng đất Quảng Hòa.

Đình Hòa Ninh được xây dựng vào năm Bảo Đại thứ 11 (1936) với sự đóng góp công sức của người dân địa phương. Thời phong kiến, đình là nơi thờ cúng các vị anh hùng, các vị có công khai khẩn đất hoang lập nên làng mạc, vừa là trạm giao liên của các binh đoàn phục vụ cho việc hành quân. Đình còn là biểu tượng cho truyền thống hiếu học, khoa bảng của ngôi làng trứ danh này.

Trải qua thời gian và chiến tranh, đình đã bị hư hỏng nhiều. Ngôi đình hiện nay, được nhân dân tu tạo lại năm 1976.

Điều dễ nhận thấy ở đình Hòa Ninh, đó là kiến trúc đình rất đồ sộ, có tính quy mô, nhưng lại rất tỷ mỹ kể cả trong bố cục lẫn hình thức trang trí về nội và ngoại thất. Đình xây theo hướng Tây Bắc và được bố trí theo kiểu thông thường: Hệ thống tường thành bao quanh và cổng trụ; bình phong và toà đại đình nằm ngang.

Qua cổng chính để vào đình, điều đầu tiên đó là sự kết hợp hài hòa về màu sắc trang trí ở hai trụ biểu; những đường nét mềm mại, sắc sảo thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân Quảng Hòa trong việc khắc hoạ, bài trí. Hình ảnh hai con nghê được ốp bằng sứ men xanh hay men nâu nhạt rất công phu đứng ở trên hai đỉnh trụ biểu, gợi nên một biểu tượng đẹp đẽ về sức mạnh đoàn kết của những người con trên quê hương Hòa Ninh.

Mái đình Hòa Ninh được xây theo kiểu tứ giác, hai mái thượng trước và sau, hai mái hạ ở hai đầu hồi Đông và Tây. Ở giữa nóc đình là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt.

Đình gồm có 5 gian, 4 vài; có một cửa chính và 4 cửa phụ. Trước cửa chính có khắc chữ “Thọ” lồng trong mặt trăng và 3 chữ Hán đắp nổi: Phúc, Du, Đồng (muôn vàn tinh hoa của dân làng tụ họp ở đây). Đây là trung tâm thể hiện các họa tiết trang trí như: Long, Ly, Quy, Phượng, bát bửu, hoa lá... bằng nghệ thuật đắp vữa và ghép mảnh sành, sứ. Đặc biệt ở cửa chính có khắc câu đối của ông Nguyễn Tiến Ích là cử nhân tặng:

Nhị khí lương năng phong vật dự tuỳ, sơn thủy hoán.
Bách niên hội điển họp tôn chung, dự trạch sơn hàm.

Tạm dịch:
Tài năng trời không cho mà có, phong cảnh tuỳ thuộc phối lại với nhau, sông núi hài hoà;
Trăm năm hội họp lại làm sao quên được.

Điều đáng chú ý ở đình Hòa Ninh, ngoài kiến trúc xây dựng đình, còn kể đến nghệ thuật chạm trổ trên gỗ, là nơi đua tài, đua trí của các nghệ nhân làng thời đó như Đặng Chịnh, Đoàn Uy, Đoàn Định, Đoàn Thơi. Qua cách bài trí bố cục các hình ảnh: rồng móng, rồng phun nước, cá chép hoá rồng, rồng ẩn mây, long tranh hổ đấu... ở các cột, vài, xuyên cho chúng ta thấy được sự linh hoạt tài tình trong chạm khắc, hợp lý trong bố cục của các nghệ nhân xưa. Tính đăng đối cũng biểu hiện khá rõ nét trong trang trí như: Sen, Trúc, Cúc, Mai: Sơn thuỷ hữu tình.

Nhìn chung về trang trí nội thất Đình Hòa Ninh mang những nét tương đồng với các đình khác ở Quảng Trạch song nó lớn hơn và hoàn thiện hơn. Các đường nét ở đây đều được chọn lọc và trau chuốt rất công phu và tỉ mỉ, mang đầy đủ giá trị tinh thần, truyền thống và ý nghĩa văn hóa của một công trình kiến trúc nghệ thuật.

Bên trong ngôi đình, ở gian giữa thờ tự vong linh thành hoàng làng đã có công khai phá lập nên làng. Thành hoàng làng là một vị nhân thần biểu tượng cho cầu phúc. Hai gian bên thờ các vị bách thần sở hội, là các vị thần có chức sắc, đức độ khoa bảng, được nhân dân mến mộ và thờ phụng. Các phong tục lễ hội của làng diễn ra tại đình vào mùa xuân đều tập trung phản ánh các quan niệm thờ cúng và thể hiện tư tưởng của người nông dân làng xã trong sự tôn vinh các vị thần.

Đình Hòa Ninh cũng là biểu tượng cho một vùng quê nông thôn Việt Nam có nhiều nhân tài đỗ đạt khoa bảng. Đó là niềm tự hào về truyền thống hiếu học của cha ông đi trước.Truyền thống đó đã được các sử sách, gia phả của làng qua nhiều thế hệ ghi lại. Hiện nay, một trong những tài sản quý giá nhất của đình chính là 10 đạo sắc phong bằng chữ Hán do các triều vua nhà Nguyễn ban tặng.
Năm 1993, Bộ Văn hóa-Thông tin (cũ) đã xếp hạng đình Hòa Ninh là di tích lịch sử văn hóa.

Với ngôi đình có tuổi đời gần trọn một thế kỷ này, vẻ đẹp kiến trúc và tinh hoa tài năng của người thợ hòa quyện cùng vai trò lịch sử nổi bật đã tạo nên một sức hấp dẫn khó cưỡng với những ai yêu thích. Trải qua biết bao thăng trầm, đình Hòa Ninh vẫn là một viên ngọc quý trên một không gian địa văn hoá miền Trung Trung Bộ.

Tổng hợp theo web Quảng Bình
Du lịch, GO!

Lưu ý: Hòa Ninh cũng là tên gọi của một đình thần tọa lạc tại ngã ba Đình thuộc ấp Hòa Thuận, xã Hòa Ninh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Đình thần Hòa Ninh xưa này được xây dựng vào năm Kỷ Dậu 1849.

Đọc tiếp

Vãn cảnh chùa Linh Phong

Linh Phong Tự, nhân dân địa phương thường gọi là chùa Ông Núi. Chùa nằm ở lưng chừng núi Phương Phi, thuộc dãy núi Bà, huyện Phù Cát, Bình Định.

< Cổng tam quan chùa Linh Phong, Bình Định.

Tương truyền, năm Nhâm Ngọ đời Hiếu Minh hoàng đế thứ 11, một ông sư người Trung Hoa, có pháp hiệu Thiện Trí Thiền Sư đến đây dựng am nhỏ gọi là Dũng Tuyền Tự (chùa suối).
Ông ở ẩn trong núi, ngày đêm tụng kinh niệm Phật nên dân làng gọi sư là Ông Núi.

< Đường lên chùa.

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), chúa xuống chiếu cho làm lại chùa, đặt tên là Linh Phong Thiền Tự, ban pháp danh cho nhà sư khai sáng chùa là Tịnh Giáo Thiện Từ Đại lão Thiền sư. Nhà sư viên tịch vào thời Tây Sơn và được các đồ chúng lập tháp thờ ở bên phải chùa vào năm Thái Đức (niên hiệu của Nguyễn Nhạc) thứ 8 (1785).

Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), nghe lời Thánh mẫu là Hoàng hậu Hiếu Khương, nhà vua ban lệnh không cho ai được xâm phạm hay lấy các vật dụng ở chùa trong khi chờ đợi trùng tu. Tuy nhiên, mãi đến đời Minh Mạng, chùa Linh Phong mới được sửa sang lớn.

Đến năm 1884-1885, dưới triều Kiến Phúc và Hàm Nghi, đại thần Đào Tấn "bỏ quan về Nam, ẩn giấu tích ở chùa Linh Phong để lánh loạn". Năm 1895, Đào Tấn được bổ làm Thượng thư bộ Công ”. vì muốn sửa sang ngôi cổ tự, nên ông đem việc ấy tâu lên Tây cung (chỉ mẹ vua Thành Thái). Nghe lời mẹ, vua Thành Thái bèn giao cho tỉnh thần 70 lạng bạc lo việc trùng tu chùa, đồng thời sai hiểu dụ dân trong tỉnh quyên góp thêm, đến tháng 8 (âm lịch) năm Đinh Dậu (1897) thì hoàn tất, và quang cảnh chùa lúc bấy giờ rất đẹp.

< Chính điện chùa Ông Núi.

Trải qua thời gian dài sau đó rồi chiến tranh, ngôi cổ tự trên chỉ còn lại cổng tam quan ở mặt đông và một bửu tháp. Năm 2004, một ngôi chùa mới đã dựng trên vị trí của chùa Linh Phong ngày xưa.

Cảnh trí thanh tao, không gian tĩnh mịch của chùa linh Phong đã in dấu ấn của biết bao tài tử văn nhân. Trên vách tường chùa hiện còn lưu lại những bài thơ tức cảnh, gửi gắm tâm sự của nhiều thi nhân, trong đó có Đào Tấn. Năm 1885 với biết bao giằng xé trong tâm can, cụ cũng đã đến nơi đây tĩnh trí, tìm lại sự thanh thản của tâm hồn, sống ẩn dật nơi cử thiền gần một năm trời.

Khói hoa một mớ trời dành sẵn,
Ao biển mười năm mộng trở về.

< Lên thăm hang tổ.

Ở sườn núi phía Đông có một hang đá rộng ăn sâu vào rong núi. Dân địa phương truyền rằng trong hang có những phiến đá xếp tự nhiên thành các vật dụng giống như bàn, ghế và các đồ dùng khác. Đây là nơi Ông Núi đã từng sống và tu luyện. Người ta còn kể rằng khi còn sinh thời nhà sư có nuôi hai con cọp mun, tuy hình hài hung dữ nhưng tính tình rất hiền lành, chúng không ăn thịt mà chỉ ăn trái cây. Hang đá giờ đây đã bị những bụi cây gai um tùm lấp mật cửa, không ai dám vào. Chùa Linh phong vốn đã nổi tiếng là linh thiêng, với hang đá bí ẩn này và những truyền tích ly kỳ lại càng thêm huyền bí.

< Hang tổ với tượng nhà sư Ông Núi.

Từ xưa đến nay, người đến vãng cảnh chùa không phải ít nhưng họ đến với nhiều mục đích khác nhau. Nhưng có lẽ đến với chùa Linh Phong ai cũng sẽ cảm thấy như lòng thanh thản hơn. Thật đúng như một thi sĩ đã gởi gắm nỗi niềm vào hai câu thơ kết cho một bài thơ đề trên vách chùa:
“Những người phiền não, trường danh lợi
đến đó thời lòng cũng giải khuây”

Chùa tọa lạc chốn sơn lâm nhưng đường đi tới lại không khó. Du khách đi đường bộ có thể theo quốc lộ 1A đến ngã ba cầu An Hành thuộc địa phận xã Cát Tân (Phù Cát), rồi rẽ vào tỉnh lộ 635 nhằm thẳng hướng đông đến địa phận thôn Phương Phi, gặp bất cứ ai cũng sẽ được chỉ đường lên chùa.

Trước khi tới chùa, cũng trên trục lộ này tại thôn Trường Thạnh có một di tích tây sơn quan trọng mà khách tham quan không nên bỏ qua. Đó là Tân phủ Càn Dương. Còn đi theo đường thủy thì du khách có thể cập bờ ờ Cách Thử rồi leo bộ lên chùa. Cách Thử xưa vốn là hải tấn, một trung tâm thương mại, tàu bè qua lại buôn bán tấp nập Chùa Linh Phong là một di tích, một danh lam hấp dẫn mọi khách thập phương.

Du lịch, GO! tổng hợp

Đọc tiếp

Cổ kính Vạn An Thạnh

Đảo Phú Quý có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời. Với hơn 30 di tích Lịch sử – Văn hóa đủ mọi loại hình và niên đại trải đều trên một diện tích tự nhiên gần 17,82 km² của đảo là một bằng chứng lịch sử sinh động chứng minh cho quá trình khai phá và xây dựng đảo của người Việt Nam.

Các di tích đó còn nói lên sức sống mãnh liệt của nhân dân qua hàng trăm năm giữa biển khơi, làm rạng rỡ nguồn gốc con người Việt Nam nơi hải đảo xa xôi. Vạn An Thạnh là một điển hình, Vạn tọa lạc trên một bãi cát trắng sát cạnh bờ biển thuộc làng Triều Dương, xã Tam Thanh, huyện Phú Quý. Vạn ở vị trí cách trung tâm huyện lỵ Phú Quý 2.5km về hướng Đông Nam và cách UBND xã Tam Thanh 1km về hướng Đông. Tên gọi Vạn An Thạnh nói lên ước nguyện có một cuộc sống an khang, thịnh vượng của bà con ngư dân nơi đây.

Từ bao đời nay, đánh bắt hải sản là nghề chủ đạo của ngư dân Phú Quý. Sống giữa một môi trường biệt lập, bốn bề là đại dương bao la, những nhân tố đó đã hình thành nên một sắc thái địa phương ở xứ đảo. Lâu nay, ngư dân Phú Quý có một niềm tin tưởng mãnh liệt vào sự linh hiển của cá Ông (cá Voi) và coi đó là vị thần cứu trợ luôn ở bên cạnh họ trong những chuyến biển đầy hiểm nguy. Trong ngư dân Phú Quý lưu truyền rất nhiều sự tích nói về sự linh thiêng của Thần Nam Hải.

Những sự tích đó được đúc kết dưới dạng những câu thơ, bài hát, điệu hò dân gian. Mặc dù đó chỉ là những sự tích ít nhiều mang tính huyền thoại, nhưng đối với ngư dân thì họ tuyệt đối tin tưởng. Bởi vì họ là những người từng bị sóng gió vùi dập, và chính từ trong cơn hiểm nghèo đó họ đã chứng kiến Thần Nam Hải đến cứu mình. Trước kia phương tiện đi biển rất thô sơ, với chiếc thuyền con mộc mạc nhỏ bé nên con người chủ yếu dùng chính sức lực của mình để chèo chống khi có giông tố bất ngờ ập đến.

< Nhà trưng bày xương cá Voi xây dựng hoàn thành năm 2010.

Và trong cơn hoạn nạn, ngư dân thường khấn vái rằng… “Phục vận Nam Hải sanh thần linh thiêng hiển hích cứu hộ chúng dân tai qua nạn khỏi…”. Khi đó thần Nam Hải sẽ linh ứng xuất hiện, tựa thân mình vào thuyền và dìu dắt vô bờ xuôi theo chiều gió. (Như chúng ta đã biết, theo khoa học thì cá Voi là một động vật biển thở bằng phổi nên thường ngoi lên mặt nước để thở. Lúc sóng to gió lớn cá Voi thường tìm những vật lớn để nương tựa vào nhau tránh bị sóng gió vùi dập. Những lúc đó cả hai nương tựa vào nhau, có lợi cho nhau thoát cơn hiểm nghèo.

Dân tộc ta có truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và tôn trọng công lao của ông bà trong sự nghiệp khai phá, tạo dựng ngày trước. Vạn An Thạnh là một trong những biểu hiện tiêu biểu của truyền thống đáng quý đó. Vạn thờ cá Ông cùng thờ Thành hoàng bổn xứ và Tiền hiền, Hậu hiền. Theo tài liệu để lại thì Vạn An Thạnh được tạo dựng vào năm Tân Sửu (1781), là Vạn có niên đại sớm nhất so với các Vạn khác ở Phú Quý.

Thuở sơ khai Vạn chỉ là một bộ khung gỗ lợp tranh vách lá bấy giờ chưa có “Ngài” nào trôi dạt lên đảo. Đến năm Tân Sửu (1841) mới có “Ngài” đầu tiên “Hóa” (chết) dạt vào bãi cát trước Vạn. Bà con ngư dân đã tổ chức lễ mai táng long trọng. Vị này to lớn và là vị đầu tiên trôi dạt lên đảo nên được gọi là “Vị Cố”.

Hiện nay trên khám thờ thần Nam Hải ở Vạn An Thạnh còn lưu giữ bức Thần chú thờ Vị Cố có chạm dòng chữ Hán cổ “Nam tế Hải linh cự tộc Ngọc Lân thủy tướng tôn Thần, Tân Sửu Niên, Thập ngoạt thập ngũ nhật tị thời”. Từ đó đến nay Vạn lấy ngày 15 tháng 10 làm ngày giỗ Vị Cố và đây cũng là dịp Tế thu của Vạn.

Ngoài ra, trong khuôn viên còn có các bộ phận phụ khác như: Khu mai táng xác ông bà, công quán, cổng vào, án phong, nhà khói…Vạn An Thạnh là di tích kiến trúc tôn giáo liên quan đến tín ngưỡng ngư nghiệp. Vạn ẩn mình dưới những hàng dừa xanh bao phủ, hướng chính quay về phía nam nhìn thẳng ra biển khơi. Các bộ phận kiến trúc chính của vạn gồm Chính điện, Võ ca và Tiền hiền được bố trí dạng chữ Tam.

Ngày nay, Vạn lưu giữ gần 100 bộ hài cốt (gồm cá voi, rùa da), bà con ngư dân coi đó là hài cốt của ông bà nên tôn thờ với những nghi thức kính cẩn.

Với gần 100 bộ hài cốt cá ông, rùa biển đủ niên đại, kích cỡ, Vạn An Thạnh là nơi có một bộ sưu tập phong phú về cá ông rất có giá trị trong việc nghiên cứu sinh vật biển đối với các nhà hải dương học. Tại Vạn còn lưu giữ bộ xương cá Nhà Táng thuộc họ cá Voi, bộ xương có chiều dài trên 17m, có 50 đốt xương, cá có 30 đôi răng mọc ở hàm dưới (tương truyền lúc cá mới dạt vào bờ nặng khoảng 40 tấn). Đây là bộ xương cá Voi lớn thứ hai ở Bình Thuận (sau bộ xương cá Voi ở Vạn Thủy Tú, Phan Thiết). Hiện nay, Vạn An Thạnh được Nhà nước và nhân dân đầu tư trên 8 tỉ đồng để trùng tu xây dựng Vạn và Nhà trưng bày xương cá Voi cùng một số hạng mục khác.

Tại Vạn An Thạnh thường xuyên diễn ra các lễ hội như: Lễ hội tế xuân: Kéo dài từ mùng 10 đến 20/1 âm lịch, đây cũng là dịp Cầu Ngư đầu năm của Vạn. Đây là lễ tế Thần đầu năm để cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng thắng lợi. Lễ hội tế xuân của Vạn An Thạnh, ngoài việc tế Thần đầu năm còn gắn liền với mục đích cầu ngư. Ngoài những nghi thức hành lễ theo tập tục cổ truyền (vật dâng tế Thần Nam Hải, nhang đèn, chuông trống, văn tế Thần và Tiền hiền, Hậu hiền) là những sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí thu hút đông đảo bà con ngư dân xứ đảo. Đây cũng là dịp để hướng mọi người quay về cội nguồn, tổ tiên và truyền thống lâu đời của dân tộc.

Lễ giỗ vị cố: Tiến hành vào ngày 15/10 âm lịch, đây cũng là dịp Tế Thu của Vạn. Ngoài những nghi thức hành lễ long trọng như lễ tế xuân, còn có thêm nghi thức rước ông Sanh từ biển khơi. Ngư dân tổ chức ghe thuyền, cờ trống ra khơi nghinh đón những vị thần sống về vạn chứng kiến ngày tế lễ. Những bài văn tế Thần, Tiền hiền và Hậu hiền được đọc long trọng trong buổi lễ. Hiện nay Vạn An Thạnh còn lưu giữ bài văn tế dày 124 trang viết bằng chữ Hán cổ được lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Trong lễ hội tế xuân và tế thu của Vạn An Thạnh, có các loại hình văn hóa dân gian như dân ca nghi lễ, hát chèo bả trạo… là những làn điệu cổ truyền rất độc đáo của ngư dân Phú Quý. Những sinh hoạt văn hóa truyền thống đó không thể thiếu trong ngày hội văn hóa của toàn dân. Đây là dịp để mọi người ôn lại truyền thống khai phá xây dựng đảo, tăng cường tình đoàn kết, mối tương thân tương ái giữa các ngư dân, củng cố và tăng cường sức mạnh trong sự nghiệp lao động và xây dựng đảo Phú Quý ngày càng sung túc hơn.

Ngoài gần 100 bộ xương cốt là những di vật chính ở đây, Vạn An Thạnh còn nhiều hiện vật quan trọng khác tạo nên di sản văn hóa của ngư dân vùng đảo: bao gồm tượng thần “Thủy lân”, gia phả, văn tế, sắc phong, hoành phi, liên đối. Vạn An Thạnh là một trong những di tích cổ ở đảo Phú Quý được các vua triều Nguyễn phong tặng số lượng sắc tương đối nhiều. Nội dung sắc thần chủ yếu ban tặng “Thần Nam Hải cự tộc ngọc lân” và những tướng lĩnh có công giúp Nguyễn Ánh chạy nạn và chết ở đảo. Có tất cả 10 sắc thần gồm những đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân … ban.

Vạn An Thạnh được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp Quốc gia, tại Quyết định số 51/QĐ/BT ngày 12/01/1996. Ngoài những giá trị văn hóa dân gian truyền thống Vạn An Thạnh là một Bảo tàng văn hóa biển tồn tại đã 219 năm (tính đến năm 2010), với nhiều sưu tập những chủng loại cá voi và rùa da. Có thể xếp vào hạng các Bảo tàng về biển có niên đại cổ xưa trên thế giới.

Trong những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu về Hải dương học, những đoàn khách du lịch nước ngoài đến đảo đã rất thích thú về việc bảo quản, giữ gìn di vật trong Vạn An Thạnh. Vạn An Thạnh như một chứng nhân bao đời của lịch sử vùng đảo. Những giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và văn học dân gian sẽ được kế thừa tiếp tục phát triển những điểm tốt, hạn chế và loại bỏ dần những biểu hiện tiêu cực trong lễ nghi để sẵn sàng chuyển giao tốt cho các thế hệ mai sau.

Theo web Phú Qúy - Bình Thuận

Du lịch, GO!

Đọc tiếp

Đền Đồng Cổ - Yên Định

Đền Đồng Cổ là một trong những di tích lịch sử - văn hóa của huyện Yên Định được xếp hạng cấp Quốc gia (2001), cách thành phố Thanh Hóa 40 km về phía Tây Bắc. Cùng với các di tích: Lam Kinh, thành nhà Hồ, Đông Sơn, Núi Đọ, Núi Nưa…, đền Đồng Cổ là điểm du lịch tâm linh và về nguồn, tạo thành quần thể di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng của xứ Thanh có bề dày truyền thống từ lâu đời.

Du khách từ thành phố Thanh Hóa, ngược Rừng Thông, qua cầu Vạn Hà (sông Chu), đến thị trấn Quán Lào, đi chừng 12 cây số lên xã Yên Thọ là đến với đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, nơi vừa có phong cảnh hữu tình, vừa có những huyền thoại gắn với nhiều giai đoạn trong lịch sử đất nước.

Tương truyền ngày xưa, một vị vua khi đi đánh giặc qua đây có nghỉ lại một đêm trên bến Trường Châu bờ phải sông Mã (nay thuộc xã Yên Thọ). Trong giấc chiêm bao, vua được một vị thần xưng là thần núi Ðồng Cổ báo mộng rằng dưới chân núi có trống đồng cổ, đào lên dùng tiếng trống làm linh khí đuổi giặc. Khi vua tỉnh giấc còn nghe tiếng chuông đồng vọng từ ngôi đền dưới chân ba ngọn núi. Nhà vua làm theo những điều mà sơn thần nơi đây báo mộng. Quân giặc nghe tiếng trống đồng âm vang đã sợ khiếp vía và rút chạy. 

Từ đó, nơi ba ngọn núi đá chụm đầu vào nhau, tạo thế vững chãi từ sức mạnh đoàn kết như kiềng ba chân, đã trở nên linh thiêng. Theo bảng thuyết minh treo ở Thượng Điện: “Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương (2569 – trước Công nguyên), đến thời Lý (1020) miếu được sửa sang lại, sang thời Lê – Trịnh (1630), miếu được xây dựng khang trang, to đẹp hơn…Miếu thờ thần núi Đồng Cổ, vị thần đã giúp các triều đại đánh thắng giặc ngoại xâm và diệt trừ phản loạn: Giúp vua Hùng đánh thắng giặc Hồ Tôn; giúp vua Lý đánh thắng giặc Chiêm và diệt trừ phản loạn; giúp vua Lê-chúa Trịnh đánh tan nghịch Mạc; các đời Đinh, Lý, Trần, Lê thờ cúng đều ứng nghiệm, giúp việc giữ gìn đất nước…”

Sách “Việt điện U Linh” (NXB Văn hóa năm 1960) của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) chép một đoạn về Lý Thái Tông, đại ý: Phụng mệnh vua cha là Lý Thái Tổ, Thái tử Lý Phật Mã (sau này là vua Lý Thái Tông) đem binh đi đánh Chiêm Thành (1020), đến Trường Châu (núi Khả Lao ở làng Đan Nê) đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, thấy một người thân cao 8 thước, mắt sáng, râu rậm, mặc chiến bào, tay cầm kim khí, đến trước cúi đầu tâu rằng:

< Trống đồng tại Thượng Điện đền Đồng Cổ xã Yên Thọ.

- Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc lập công.

Thái tử vỗ tay khen ngợi rồi tỉnh giấc. Quả nhiên, theo lời Đồng Cổ Sơn Thần, vua cho quân tiến đánh giặc Chiêm Thành, giành thắng lợi. Khi khải hoàn về qua Trường Châu, Thái tử bèn sai quân sĩ sửa sang miếu thần thành đền thần, rồi tạ lễ và rồi rước bài vị về kinh đô để dựng đền giúp cho quốc thái dân an.

Năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà, Thái tử Lý Phật Mã chưa kịp lên ngôi thì xảy ra loạn Tam vương. Các hoàng tử Vũ Đức, Đông Chính và Dực Thánh khởi loạn giành ngôi báu. Thái tử được Lê Phụng Hiểu giúp sức dẹp yên. Lý Phật Mã lên ngôi vua (Lý Thái Tông) nhận rằng trước thời điểm xảy ra nội loạn trong vương triều, thần núi Đồng Cổ đã báo mộng cho Thái tử biết nên đã kịp thời mà phòng bị.

Từ vụ dẹp xong tạo phản, vua càng tin vào sự linh thiêng của thần Đồng Cổ, xuống chiếu giao cho quan hữu ty dựng đền thờ tại Thăng Long vào năm mới lên ngôi sau chùa Thánh Thọ (1028), lấy ngày 25-3 dựng đàn thề. Sau đó vì tháng 3 có ngày Quốc kị nên chuyển sang ngày mồng 4-4 hàng năm. Nhà vua ban chiếu lập đàn treo cờ tại đền Đồng Cổ, bắt các hoàng thân quốc thích và tất cả triều thần tới đền, đứng trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội". Trải qua các triều đại đền thờ thần Đồng Cổ Đan Nê vẫn được coi là đền chính.

Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra các nghi lễ của các triều đại vua chúa nước ta. Trong đền còn rất nhiều thần tích, sắc phong của các triều đại. Các vương triều Trần, Lê, Trịnh - Nguyễn vẫn duy trì các nghi thức quốc lễ tại đền Đồng Cổ ở Yên Định (Thanh Hóa) và phường Bưởi (Hà Nội). Thời Trần, hội thề Đồng Cổ là một hội lớn, dân bốn phương về xem hội rất đông. Đền Đồng Cổ tại Hà Nội giờ đây nằm trên khu đất cao, trông ra sông Tô Lịch, gồm Tam quan, các tòa Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Bên trong vẫn còn lưu giữ 12 đạo sắc của các niên hiệu: Cảnh Hưng, Chiêu Thống, Quang Trung, Cảnh Thịnh, Thiệu Trị, Tự Đức (từ 1740 - 1883). Vì đền thờ linh thiêng nên vào nửa đầu thế kỷ thứ I sau Công nguyên, các nghĩa sĩ Thanh Hóa đã rước linh vị thần Đồng Cổ lập miếu thờ ở Nguyên Xá, huyện Mê Linh, nơi tụ nghĩa của Hai Bà Trưng.

Tại đền thờ gốc ở Đan Nê có ba ngọn núi đá vững chãi (gọi là Tam Thái Sơn) bao bọc một khu đất rộng có hồ nước ở giữa, tạo phong cảnh sơn thủy hữu tình. Trước cửa đền, bên kia hồ bán nguyệt, có hai tấm bia trên vách đá núi Xuân. Một tấm bằng chữ Hán khắc lại bài văn bia do Nguyễn Quang Bàn, con vua Quang Trung, viết năm 1802, ca ngợi phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi đây, và kể lại chuyện một chiếc trống đồng cổ được tìm thấy và cúng tiến vào đền.

Tấm kia bằng tiếng Pháp, khắc năm 1889, nội dung chép lại bài văn dân làng Ðan Nê tỏ lòng sùng kính với ngôi đền. Còn tấm bia chữ Hán chép rằng, năm Canh Tuất (1790) Tuyên công Nguyễn Quang Bàn vâng mệnh vua cha vào làm quan đặc sai đốc trấn Thanh Hóa. Một đêm, ông nghỉ tại làng Ðan Nê, có vào cầu khấn trong miếu thờ Ðồng Cổ Sơn Thần. Sau đó ứng nghiệm bằng việc ông bỗng thấy bên bờ Nam sông Mã xuất lộ một chiếc trống đồng cổ rộng 9 thước, cao 4 thước. Có luận giải rằng đây là chiếc trống đồng năm xưa đã giúp vua Hùng đã làm linh khí đánh giặc loạn xâm vùng này. Năm Nhâm Tuất (1802) lại có dịp đi qua miếu, Nguyễn Quang Bàn sai đem chiếc trống đồng tìm được dạo trước hiến cho đền, đồng thời viết bia (lúc đó là bia gỗ) ghi lại để đời sau được rõ.


< Du khách tham quan đền Đồng Cổ.

Theo những người cao tuổi trong làng Ðan Nê, đền Ðồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn (dân làng gọi một cách dân dã là dãy núi Ðổng). Ngày xưa ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Nhưng, qua biết bao biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp.

Đền có Nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), cao 9 m, rộng 3 m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Theo những bậc đá lên đến ngôi miếu cổ trên núi Xuân, du khách có thể thu vào tầm mắt phong cảnh thật tuyệt vời của dòng sông Mã. Giữa đôi bờ bạt ngàn những ruộng ngô xanh mướt đang phất cờ, dòng sông mùa khô mang mầu ngọc bích hiền hòa trôi. Xa xa, phía bên kia sông là dáng hình thành Nhà Hồ (thuộc huyện Vĩnh Lộc), ẩn hiện trong sương mù mùa đông mờ ảo. Dưới chân núi, ngôi đền Ðồng Cổ (được xây lại vào năm 1996, chỉ gồm một gian hai chái), lọt trong xanh tươi cây lá. Trước đền, hồ Bán Nguyệt như một tấm gương soi mây trời, lồng bóng núi.

Thời kháng chiến chống Pháp, binh công xưởng Nguyễn Công Cậy sản xuất vũ khí ngay trong hang động Ích Minh trong lòng ngọn núi bên phải của đền. Gần đây, người ta còn tìm được trong hang nhiều vỏ bom hình dáng như chiếc vỏ chai và những vũ khí tự tạo trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi quân Pháp phát hiện ra vị trí công binh xưởng Ích Minh, chúng đã cho máy bay ném bom san phẳng cả đền Ðồng Cổ. Những di tích nguyên gốc còn lại đến nay, ngoài hai tấm bia kể trên, chỉ còn chiếc miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và chiếc cổng Nghinh môn nằm ở phía tây ngôi đền.

Ðến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một nhà máy điện cũng sơ tán về đây, sản xuất điện phục vụ kháng chiến ngay trong lòng hang Nội ở ngọn núi bên trái ngôi đền.

< Hồ bán nguyệt trước đền.

Năm 2007, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng, bảo tồn, tôn tạo núi và đền Đồng Cổ theo 2 giai đoạn với tổng kinh phí dự toán hơn 35 tỷ đồng. Ngày 4-7-2008 khởi công xây dựng các hạng mục công trình: Tu bổ và tôn tạo Nghi Môn, Quán Triều Thiên, Tiền Điện và Thượng Điện, trong đó Thượng Điện là hạng mục chính. Sau hơn 1 năm xây dựng, ngày 15-8-2009 hoàn thành giai đoạn I với nguồn vốn hỗ trợ đầu tư đợt 1 (15 tỷ đồng) của UBND thành phố Hà Nội và Ban chỉ đạo Quốc gia 1000 năm Thăng Long –Hà Nội. Một số hạng mục chính yếu của khu di tích đang rất cần được nâng cấp tôn tạo hoàn chỉnh như: Bàn cờ tiên trên đỉnh núi, chùa Thanh Nguyên, bến Trường Châu, Tiền Điện, Nghi Môn…Hệ thống đường vào đền, đường quanh hồ bán nguyệt, đường lên núi, khu dịch vụ du lịch cũng cần được xây dựng, nâng cấp xứng tầm với giá trị và quy mô của khu di tích này.

< Hang núi tại đền Đồng Cổ - nơi làm xưởng sản xuất vũ khí thời kháng chiến.

Ngày 23-2-2010, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã gắn biển công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội cho di tích đền Đồng Cổ ở làng Đan Nê, xã Yên Thọ (Yên Định, Thanh Hóa).

Đền Đồng Cổ ở Đan Nê (Yên Định) và đền Đồng Cổ tại Thủ đô Hà Nội thật sự là di tích lịch sử - văn hóa có giá trị đặc biệt với người dân Việt Nam, nó thể hiện rõ tâm linh hướng thiện và tâm thức về nguồn, vọng ngưỡng lòng trung thành, yêu nước của người Việt Nam, phát huy những giá trị tiếp nối truyền thống thượng võ của dân tộc ta. Đây cũng là điểm tham quan, thưởng ngoạn, viếng cảnh và thắp hương cầu nguyện của du khách trong và ngoài nước.

Theo B.V.B (Cổng TTĐT Yên Định)
Du lịch, GO!

Đọc tiếp

Chùa Thánh Duyên - Huế

(BTT) - Thánh Duyên là ngôi quốc tự có vị trí đẹp, nơi trời mây sông nước quyện hòa cùng phong cảnh Bụt. Chùa tọa lạc tại Túy Vân sơn, ngọn núi được vua Thiệu Trị xếp hàng thứ chín trong 20 cảnh đẹp của xứ Huế, thuộc phường Đông Am, tổng Diên Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên. Nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Khi trùng kiến chùa vào năm 1836, vua Minh Mạng đã dụ rằng: “Những danh lam thắng tích ta không có quyền để chúng lụi tàn, mất hết dấu tích, không lưu lại cho thế hệ mai sau. Huống gì quang cảnh nơi đây đều do Hoàng tổ của ta (Minh Vương Nguyễn Phúc Chu) vì triều đình, vì thần dân mà tạo dựng, nhằm mục đích khuyến khích mọi người tu tâm, tích thiện, tạo phước điền”.

Chùa được vua đặt tên là Thánh Duyên vì “Thánh tức thị Phật, Phật tức thị Thánh, hữu thị Thánh phương khai Phật pháp chi sùng thâm; duyên bổn thị nhân, nhân bổn thị duyên, hữu thị duyên nãi khuyếch thiện nhân chi quảng bị”. Chính vua Minh Mạng đã ngự chế câu đối ấy và cho lồng chép vào nội dung văn bia để khắc vào bia đá “Ngự chế Thánh Duyên tự chiêm lễ” vẫn còn ở chùa.

Kiến trúc chùa Thánh Duyên hài hòa với địa thế của ngọn núi nơi ngôi chùa tọa lạc. Bia đề tên núi “Túy Vân sơn” bắt đầu những bậc tam cấp lên chùa. Cổng tam quan dạng cổ lâu đặc trưng chùa Huế có thiết trí thờ Hộ pháp Vi Đà. Chính điện là tòa nhà ba gian hai chái, cao rộng và thoáng đãng. Phần mái được lợp ngói liệt theo kiểu trùng thiềm điệp ốc đặc trưng của Huế trang trí bằng cù giao, lưỡng long, vân hóa long tinh xảo.

Nội điện thờ Phật cùng nhiều vị hiền thánh thiện thần khác. Gian chính ở giữa thờ Tam Thế Phật: Quá khứ, hiện tại và vị lai; phía trước thấp hơn bàn thờ Phật là bàn thờ bài vị vua Minh Mạng. Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh Vương, mỗi bên gần sát vách thờ 5 tượng; tiếp đến vào phía trong thờ 2 dãy tượng Thập Bát La Hán, mỗi bên 9 tượng. Dãy bên trái có tượng Bồ Đề Đạt Ma tọa thiền, đối diện bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh. Phía sau chính điện là nhà tổ, thờ các thế hệ tăng cang và thập phương thiện tín của chùa.

Nằm giữa lưng chừng núi, cách chính điện khoảng chừng 50 mét là Đại Từ Các. Đây cũng là ngôi nhà rường nằm trong tổng thể kiến trúc theo hình thế núi: Chùa, gác, tháp. Sau khi trùng tu, các Đại Từ được chia làm 3 gian: Gian giữa phía trước thờ Phật (A Di Đà, Thích Ca Mâu Ni và Di Lặc), phía sau là pho tượng Chuẩn Đề Bồ Tát, gian bên phải thờ đức Quan Âm và gian bên trái thờ Bồ Tát Đại Thế Chí.

Công trình cao nhất nằm trong tổng thể kiến trúc chùa Thánh Duyên là tháp Điều Ngự hình khối tứ giác có 3 tầng, cao khoảng 13 mét. Điều Ngự là một trong mười danh xưng của Đức Phật nhưng Điều Ngự cũng có ý nghĩa là nơi để vua điều phục và chế ngự tâm. Khi tâm đã được chế ngự thì không có việc gì không làm được, đây chính là ý nghĩa của việc vua Minh Mạng cho dựng đình Tiến Sảng phía đằng sau tháp. Trên đỉnh tháp ngày xưa có dựng trụ đồng đặt pháp luân chuyển động theo gió, kèm theo hệ thống chuông lắc. Khi gió thổi pháp luân xoay, âm thanh của tiếng chuông sẽ vang vọng gần xa.

Là quốc tự nên sau khi được trùng tu dưới triều Minh Mạng, nhiều vị cao tăng đã được sắc cử làm tăng cang và trụ trì ở đây để lo Phật sự như Hòa thượng Liễu Đạo Chí Tâm, Hòa thượng Tánh Khoát Huệ Cảnh, Tánh Thông Nhất Trí, Hòa thượng Vĩnh Thừa, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Mật Hiển. Hiện nay Hòa thượng Hải Ấn giữ nhiệm vụ làm trụ trì chùa nhưng người đang sống và coi sóc công việc của ngôi tự lại là Đại đức Thích Minh Chính.

Sau một thời gian dài bị đồi phế, Thánh Duyên đã được Nhà nước và Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế trùng tu năm 2003 để trả lại vẻ đẹp vốn có cho ngôi chùa. Nhiều văn vật, pháp tự, pháp khí có giá trị như chuông đồng, bia đá và các bài thơ của các vị vua triều Nguyễn chạm trên vách đố bằng gỗ theo lối nhất thi nhất họa vẫn được bảo tồn và lưu giữ cẩn thận, đặc biệt là những pho tượng bằng tre hay bằng đồng rất có giá trị.

Trong số gần 70 pho tượng tại chùa, đáng chú ý hơn cả là bộ tượng Thập Bát La Hán bằng tre thếp vàng và bộ tượng Thập Bát La Hán bằng đồng xưa và lớn nhất Việt Nam được ghi vào sách Kỷ lục Việt Nam năm 2008.

Vào những thập niên đầu của thế kỉ 20, quốc tự Thánh Duyên đã từng là đạo tràng lớn của Giáo hội. Chùa một thời được Chư tôn đức trong sơn môn Tăng già Thừa Thiên dùng làm nơi tu học cho chư tăng vào các mùa An cư kiết hạ. Đến thời kỳ hội An Nam Phật học ra đời, khuôn hội Tịnh độ cũng đã được thành lập tại đây. Bỏ lại đằng sau sự huy hoàng của quá khứ, chùa Thánh Duyên ngày nay đang hòa mình vào đời sống dân dã của làng quê. Chùa vẫn là nơi du khách thập phương vãn cảnh dù đông hay hè, là nơi Phật tử lui tới cúng dường đức Phật và cũng là nơi nuôi dưỡng những tâm hồn trẻ thơ, giúp thế hệ tương lai của đất nước hướng thiện.

Đến chùa vào ngày Rằm hay mồng một, các em thanh thiếu niên quây quần bên thầy Thích Minh Chính vui chơi cũng như trong bữa cơm chay đạm bạc. “Nhìn thấy Phật ắt tâm hồn sẽ hướng Phật, để các em vui chơi và sinh hoạt ở chùa giúp các em tránh sa vào các trò chơi không tốt sau giờ học và cũng là phương cách nuôi dưỡng tâm hồn hướng thiện, giúp các em có ích cho cộng đồng, trở thành người tốt khi trưởng thành”, thầy Minh Chính chia sẻ.

Bỏ qua sự tĩnh lặng và uy nghiêm của một ngôi quốc tự, Thánh Duyên giờ đây gần gũi với người dân hơn bao giờ hết. Nó không xuất phát bởi vị trí nằm giữa xóm thôn hay là chốn viếng thăm quen thuộc của du khách thập phương mà bởi sự mở lòng vốn có của nhà Phật.

Theo Vinh Dự - Hoài Lương (Báo Tin Tức)
Du lịch, GO!

Đọc tiếp

Di tích kiến trúc chùa Bửu Sơn (Q9)

(Q9TPHCM) - Chùa Bửu Sơn tọa lạc tạị số 341 đường Nguyễn Văn Tăng phường Long Thạnh Mỹ, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy nguồn tư liệu chính thống nào cho biết chùa được xây dựng từ bao giờ nhưng theo các sư cô (tu tại chùa) chùa được thành lập vào cuối thế kỷ XIX. Chùa có cùng thời với chùa Hội Sơn và Chùa Phước Tường. Chùa Bửu Sơn thuộc hệ phái Bắc Tông chi phái lâm tế dòng Liễu Quán. Vị sư trụ trì đầu tiên tại chùa là Hòa Thượng Thích Bửu Cảnh sau khi Hòa Thượng viên tịch chùa được giao lại cho hòa thượng Huệ Minh trông coi, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì chùa bị bỏ hoang.



Năm 1986, chùa Bửu Sơn được giáo hội Phật Giáo huyện Thủ Đức giao cho ba vị ni sư tiếp quản trông coi. Giữ vai trò trụ trì là ni sư Thích Nữ Diệu Lành; các vị được thờ chính trong chùa Bửu Sơn: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; Quán Thế Âm; Địa Tạng Vương Bồ Tát; Văn Thù Bồ Tát; Phổ Hiền Bồ Tát; Đại Thế Chí Bồ Tát; Thập Điện Diêm Vương; Di Lặc Bồ Tát; Địa Mẫu Nương Nương; Hộ Pháp; Tiêu Diện Đại Sĩ; Tổ Sư Đạt Ma.

Chùa Bửu Sơn được xây dựng trên một khuôn viên rộng khoảng 8000m². Cổng tam quan chùa được xây dựng kiên cố giữa các trụ có có mái giả lợp ngói xanh, giữa mái trang trí bánh xe pháp luân cách điệu hình bông hoa, các trụ cổng được ốp đá và trang trí búp sen trên đầu các trụ. Năm 1986 chùa xuống cấp nặng và đã được trùng tu lại theo giống kiến trúc ban đầu. Mặt tiền chùa, các cửa vòm được xây theo kiểu kiến trúc của Pháp, đây là kiểu mặt tiền phổ biến rất phổ biến của các chùa vùng Thủ Đức xưa. Mái chùa lợp ngói vảy cá, trên đường bờ nóc mái trang trí tượng đầu rồng đội bánh xe pháp luân, đường bờ dải trang trí tượng rồng uốn lượn trong mây đầu đao trang trí tượng chim phượng. Cửa chùa được làm đơn giản không trang trí hoa văn cầu kỳ, ba cửa gỗ lớn rất chắc chắn được sơn màu nâu sậm tạo thêm vẻ u tịch cho không gian thờ cúng bên trong.

Chùa Bửu Sơn gồm các đơn vị kiến trúc: Tiền điện là nhà ba gian, cột gỗ mái lợp ngói vảy cá đặt giữa tiền điện là lư hương lớn bằng đá, khám thờ tiêu diện đai sĩ và hộ pháp được bày trí đăng đối với nhau. Tượng hai vị được làm bằng thạch cao đặt trên khám thờ ốp gạch men. Trống và chuông được đặt đối diện nhau ở hai góc của tiền điện.

Chính điện chùa Bửu Sơn được xây dựng theo kiểu tứ trụ: giữa chính điện có bốn cột gỗ tròn lớn đỡ lấy bộ vì kèo bằng gỗ mở rộng ra bốn phía. Các kèo, xà, cột được lắp ghép lại với nhau bởi các mộng giống kỹ thuật làm nhà rường của người Nam Bộ xưa. Chính điện và tổ đường đối ứng với nhau qua vách ngăn giữa bàn Tam Bảo và bàn thờ tổ. Chính điện có bàn thờ Phật Thích Ca, tổ đường có thờ các vị tổ sư của giáo phái và các đời trụ trì chùa. Chạy dọc theo hai bên chính điện-  tổ đường là hành lang bên trái và bên phải, có các bàn thờ: bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, bàn thờ Thập Điện Diêm Vương, bàn thờ Mẹ Sanh, Địa Tạng Vương Bồ Tát, đèn Dược Sư, bàn thờ 5 vị Bồ Tát.

Điện thờ phật thích ca được trang trí bao lam chạm lộng tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng và dây lá, hoa. Ở hai cột bên trang trí đôi câu đối bằng gỗ hình lòng máng, xung quanh chạm khắc hoa văn Kỷ Hà và Dơi (biểu tượng của điềm phúc, điềm tốt lành). Bàn tam bảo, bậc trên cao là tượng Phật Thích Ca tọa thiền trên tòa sen, tay bắt ấn, hình vẽ cây bồ đề trên bức tường phía sau tương Phật tạo cho người viếng cảnh chùa có cảm giác Phật đang thiền định dưới bóng cây. Bậc tiếp theo của bàn Tam Bảo là bộ tượng Phật Tam Tôn: A Di Đà, Quán Thế Am Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Phía trước tượng A Di Đà có tượng Thích Ca sơ sinh và ngoài cùng của bàn tam bảo có bảy tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Phật bằng gốm men nhiều màu. Trước bàn Tam Bảo có hai bàn hương án hình cuốn thư, bằng gỗ.

Dọc theo hành lang bên trái chính điện có 3 bàn thờ trong cùng là bàn thờ Phật Quán Thế Âm, hàng trên có tượng Phật đứng trên tòa sen, tay trái bắt ấn, tay phải nâng bình cam lồ. Tầng thứ hai có tượng phật Bà tọa trên tòa sen, hai tay bắt ấn đỡ lấy bình cam lồ trước ngực.

Tiếp theo là bàn thờ Thập Điện Diêm Vương. Bộ tượng Diêm Vương làm bằng gỗ mít, hiện nay còn được 5 tượng Diêm Vương , 2 tượng Phán Quan, và 2 người Hầu. tượng 5 vị Diêm Vương ngồi trên ngai, 4 vị tay cầm hốt chấp, 1vị tay cầm bút, tượng Phán Quan và người Hầu đứng trên bục. Đây là những hiện vật quý báu của chùa Bửu Sơn có cùng niên đại khi chùa được xây dựng. Bên cạnh bàn thờ Thập Điện Diêm Vương là bàn thờ Mẹ Sanh

Dọc theo hành lang bên phải chính điện, phía trong cùng là bàn thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát, kế đến là cây đèn Dược Sư bằng gỗ, tượng Phật, tượng rồng ẩn trong mây, tượng Lân được chạm khắc khéo léo sinh động. Đối xứng với bàn thờ Mẹ Sanh là bàn thờ 5 vị đạo hạnh trong thuyết nhà Phật gồm: Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đang cưỡi trên lưng các linh thú. Đối ứng với bàn Tam Bảo qua vách ngăn cách chính điện là tổ đường, là nơi thờ Tổ Sư của giáo phái và các đời trụ trì chùa. Ở vách tường phía sau bàn Tam Bảo treo bức tranh vẻ Tổ Sư Đạt Ma.

Tiếp sau tổ đường là khu trai đường là khu nhà được xây dựng mới, mái lợp ngói đây là nơi dùng để tiếp khách và là nơi tu học của các sư cô. Ở hai vách trai đường là nơi để di ảnh của Phật tử. Phía cuối trai đường là dãy phòng nghỉ của các ni sư. Mộ tháp ba tầng của Hòa Thượng Thích Bửu Cảnh được xây dựng ở khu vực bên trái chùa, mộ có kiến trúc hình lục giác, các tầng nhỏ dần lên trên các mặt bao quanh không trang trí hoa văn mà sơn màu vàng, các đường chỉ, điểm giao giữa các mặt và các đường chỉ làm điểm nhấn giữa  các tầng đều được sơn màu vàng đậm. Phía trước mộ có bia đá hoa cương màu đen. Bên cạnh mộ tháp là ngôi mộ được xây vào đầu thế kỷ XX.

Tiếp nối khu vực mộ táng là khu an cốt đường, là nơi để các hủ cốt của bá tánh, Phật tử. Hiện nay hiện vật trong chùa Bửu Sơn đều là những hiện vật đã được làm mới, làm bằng thạch cao, giá trị nhất là bộ tượng Diêm Vương bằng gỗ mít và các hoành phi liễn đối có giá trị về nội dung, giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm được chạm khắc…Để gìn giữ tốt các hiện vật thuộc di tích cần có sự thống kê số lượng, phân loại theo chất liệu từ đó đề ra những phương pháp bảo quản, phát huy giá trị hiện vật một cách phù hợp nhất.

Hàng năm ở chùa Bửu Sơn đều tổ chức các nghi lễ trang nghiêm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của đông đảo Phật tử và bá tánh đến chiêm bái như: Lễ Phật đản, Lễ Vu Lan, Lễ An Cư Kiết Hạ. Bên cạnh đó các ni sư còn tổ chức các lễ kỵ húy trong năm để tưởng nhớ các vị tổ sư.

Chùa Bửu Sơn với bề dày lịch sử khoảng 150 năm trong quá trình tồn tại lâu dài đó kiến trúc chùa nay đã có thay đổi song vẫn giữ được nét cổ kính, u tịch của chốn thanh tịnh Phật tọa thiền. Chùa vẫn là nơi hoạt động tôn giáo thu hút không ít Phật tử, bá tánh khắp nơi đến thăm viếng, chiêm bái vào các ngày lễ lớn, ngày kỵ húy của các hòa thượng đã viên tịch. Điều này cho thấy sự gắn bó chặt chẽ giữa đạo và đời luôn răng dạy con người sống phải có tâm hướng thiện, sống và hưởng hôm nay phải luôn phải nhớ đến công đức của nguời đã có công khai sơn, tu bổ, gìn giữ chùa đó là truyền thống “ uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của nhân dân ta bao đời nay.

Chùa Bửu Sơn tuy đã được trùng tu lại vào thế kỷ XX, nhưng ni sư trụ trì đã cho trùng tu theo hình dáng kiến trúc trước đây, chính điện được làm theo kiểu nhà tứ trụ một kiểu kiến trúc rất phổ biến của đình chùa vùng Nam Bộ xưa. Các cột, kèo, đòn tay, trính, xuyên đều làm bằng gỗ, không chạm khắc rồng mây hay lá hoa nhưng toát lên vẻ đơn sơ mộc mạc chúng được ghép lại với nhau bởi các mộng, tạo nên một bộ khung kiến trúc vững chắc đỡ lấy bộ mái ngói với những tượng trang trí hoành tráng mang đậm mô típ Phật giáo.

Ngày nay số tượng quí trong chùa đã mất mát nhiều chỉ còn một số tượng Diêm Vương, Tượng Phán Quan, tượng Người Hầu, tượng Mẹ Sanh, tượng Giám Trai bằng gỗ mít có giá trị điêu khắc, giá trị về niên đại. Một số tượng bằng thạch cao như tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, bộ tượng Phật Tam Tôn (Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát), tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát được làm từ những năm 60,70 của thế kỷ XX cũng góp phần tô điểm thêm nét đẹp của chùa. Các hiện vật như bao lam, hoành phi, câu đối, bài vị cũng là những tác phẩm điêu khắc sắc xảo, phản ánh được kỹ thuật chạm khắc gỗ của những người thợ vùng Nam Bộ vào nữa đầu thế kỷ XX.

Chùa Bửu Sơn là ngôi chùa có giá trị về kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu cho kiến trúc của các đình, chùa tại Nam bộ. Vì vậy chùa đã được Ủy ban nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh kí quyết định xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo quyết định số 2209/QĐ-UBND ngày 28/4/2012.

Theo Web Quận 9 - TP HCM, ảnh Rongcoithit (Panoramio)
Du lịch, GO!

Đọc tiếp

Chùa Chén Kiểu ở Sóc Trăng

(TBKTSG Online) - Du khách đến tham quan thành phố Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng) đều tìm đến viếng ba ngôi chùa nổi tiếng là điểm đến du lịch, gồm chùa Dơi, chùa Đất Sét và chùa Sà Lôn. Chùa Sà Lôn (còn có tên gọi là chùa Chén Kiểu) là ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo tiểu thừa (Nam tông), thuộc xã Đại Tâm (huyện Mỹ Xuyên), cách thành phố Sóc Trăng hơn 10 cây số bên quốc lộ 1 hướng đi Bạc Liêu.

Nguyên tiếng Khmer của chùa Sà Lôn là Wath Sro Loun, hay Wath Chro Luong, bắt nguồn từ tên con rạch Chro Luong chạy dọc theo đường làng Xoài Cả Nả (*), trước chùa. Từ tên Wath Sro Loun người ta gọi gọn còn Sro Loun, nhưng để dễ phát âm và dễ nhớ, người ta gọi trại theo tiếng Việt là Sà Lôn.


< Chùa Chén Kiểu ở Sóc Trăng.

Chùa Sà Lôn tọa lạc trong khuôn viên rộng lớn với những hàng cây sao dầu thẳng tắp vút ngọn lên trời xanh. Chùa Sà Lôn được xây dựng vào năm 1815 với vật liệu và kiến trúc đơn sơ. Về sau, chùa được tu bổ vài lần, đặc biệt, khi bị hư hại nặng vì chiến tranh, chùa Sà Lôn mới được dần xây dựng kiên cố, bắt đầu từ năm 1969.

Nói dần xây dựng là vì chùa được xây dựng nhiều đợt, có tiền “con sóc” (Phật tử trong sóc) cúng dường tới đâu thì xây tới đó. Chính vì vấn đề tài chánh một phần, nên vào năm 1980, khi xây xong phần thô, người ta đã nghĩ ra sáng kiến dùng miểng chén dĩa kiểu hư, bể do con sóc gom lại gắn lên trang trí tường, thay vì tô trát và sơn màu. Từ đó tên chùa Sà Lôn dần được gọi là chùa Chén Kiểu.


< Tường xây gạch được ốp mảnh vỡ chén, đĩa sứ.

Cổng chùa Chén Kiểu có hai con sư tử đá trên bệ cao hướng ra lộ. Trên cổng xây ba ngôi tháp trang trí theo kiến trúc truyền thống của người Khmer Nam bộ. Tháp chính ở giữa, bên trong lồng pho tượng Phật tọa thiền uy nghi. Hai tháp hai bên thấp hơn tháp chính. Thành cổng có dòng chữ tên chùa Sà Lôn bằng chữ Khmer và chữ Việt.

Chánh điện nằm bên trái cổng vào. Chánh điện có ba mái hình chóp. Mái cao nhất hình tam giác, hai đầu đao mỗi bên cong vút như vành trăng khuyết. Mái chánh điện được trang trí nhiều họa tiết màu sắc đẹp mắt. Tường rào và tường chánh điện dán gạch men nhiều màu đẹp đẽ. Chánh điện nằm trên 2 lần nền với 2 bậc cấp. Hai bên đầu bậc cấp nền chính có hai cột đá hình vuông. Đầu mỗi cột đá có tượng đá kỳ lân. Mặt chính và mặt hông mỗi cột đá đều có khắc hai hàng chữ Hán. Nền chánh điện lót gạch bông.


< Bộ bàn ghế cẩm thạch của Công tử Bạc Liêu và chân dung Công tử Bạc Liêu trên tường.

Trong chánh điện thờ chính Phật Thích Ca, còn có một số tượng Phật nhiều kích cỡ với nhiều tư thế. Tất cả đều nhìn về hướng đông, nhằm ban ơn phúc cho phật tử. Mái chánh điện được chống đỡ bằng 16 hàng cột lớn, ốp gạch men sáng bóng. Hai bên tường chánh điện là những bích họa miêu tả Phật tích.

Trước chánh điện, cách con đường, là cột cờ với hình tượng Rắn thần Nagar xòe 5 đầu, nhắc điển tích Rắn thần che mưa cho Phật Thích Ca khi ngài tọa thiền. Bao quanh cột cờ là hồ sen. Ngoài ra, chùa còn có một tượng Phật nằm khổng lồ... Chùa Sà Lôn đuợc công nhận di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh vào năm 2012.


< Chiếc giường mùa nóng, làm bằng gỗ giáng hương, mặt giường lót cẩm thạch.

Chùa Sà Lôn, hay chùa Chén Kiểu, là nét văn hóa kiến trúc độc đáo của đồng bào Khmer Đại Tâm, và cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nét độc đáo khác là vào cổng chùa, bên phải có một dãy nhà ngang, hai tầng. Tầng trên, có hai căn phòng, là nơi lưu giữ một số đồ gỗ của “Công tử Bạc Liêu”, Trần Trinh Huy (1900-1974). Ông Trần Văn Hai, 62 tuổi, là thư ký của ban quản lý chùa, cho biết chùa đã có vài lần mua lại một số đồ gia dụng của gia đình điền chủ giàu có xứ Bạc Liêu. Tất cả cổ vật nầy đều được chạm trổ, cẩn xà cừ tỉ mỉ, có thể nói là những tác phẩm chạm khắc gỗ quý.

< Chiếc giường mùa đông của Công tử Bạc Liêu, làm bằng gỗ lệ chi (cây vải).

Lần thứ nhất vào năm 1948, nhà chùa mua bộ bàn tròn, mặt cẩm thạch nguyên miếng, giá 1.200 đồng. Năm 1952 mua thêm bộ bàn dài, gỗ đỏ nguyên miếng (1,3m x 2,0m), giá 4.000 đồng. Năm 1956, mua chiếc giường nóng (mùa hè), làm bằng gỗ giáng hương, giá 9.500 đồng. Năm 1960, mua chiếc giường lạnh (mùa đông), làm bằng gỗ lệ chi (cây vải), giá 5.000 đồng. Tổng cộng bốn cổ vật nầy là 19.700 đồng. Ông Hai cho biết, tiền thời ấy, 1 đồng mua được 24 giạ lúa.

(*) “Xoài Cả Nả, tên gọi làm vậy vì xóm nầy khi xưa có trồng rất nhiều xoài và ai ai khi đến đây khi trở về nhà đều mang theo cả giỏ, cả nả xoài. Tiếng Thổ gọi làng nầy là Xài Chụm (Xoai Chrum) phiên âm ra Việt ngữ đời Minh Mạng là làng Tài Sum, về sau hai làng kế cận Tài Sum và Trà Tâm (Xà Tim) sát nhập lại và lấy tên mới là Đại Tâm như ngày nay đã biết” (Theo “Tuyển tập Vương Hồng Sển”, NXB Văn Học, 2002).

Theo Cát Lộc (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Chùa Sà Lôn - nét đặc sắc của văn hóa Kh’mer Nam bộ

Đọc tiếp