Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch An Giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch An Giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Ghé thăm chùa bánh xèo ở Tịnh Biên An Giang

Trước đây bà con phật tử thường gọi Thiền viện Đông Lai (khóm Xuân Phú, thị trấn huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) là chùa Phật Nằm. Về sau, chùa lại được bá tánh gần xa gọi bằng một cái tên nôm na, gần gũi là chùa Bánh Xèo.


Vị trí chùa Bánh Xèo tọa lạc tại khóm Xuân Phú, thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên - An Giang. Đây là ngôi chùa cổ, qua nhiều đời trụ trì, đã xuống cấp. Chính vì vậy mà thượng tọa trụ trì đương thời, Thích Thiện Chí đã tiến hành xây dựng, tôn tạo cho thêm phần uy nghi, tôn nghiêm bắt đầu từ vài năm nay.

Chùa Bánh Xèo còn có tên gọi dân gian khác là chùa Phật Nằm. Vì, bên phải trước chánh điện có tượng Phật nằm khá lớn. Tượng này, qua thời gian xuống cấp, cũng đang được tôn tạo cho thêm phần uy nghiêm, tôn kính. Hiện nay, đến chùa, đập vào mắt khách thập phương là Đài Quan Âm tọa lạc bên trái trước chánh điện.
Có tên gọi chùa Phật Nằm là vì bên phải chùa có tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn, trong tư thế nằm nghiêng với chiều dài 6 mét. Trong khi xây mới chánh điện, thượng tọa Thích Thiện Chí cho xây dựng đài Quan Âm bên trái chánh điện, gồm tượng Quan Âm Bồ tát, sau lưng tượng là hòn non bộ có dòng nước mát ngày đêm chảy róc rách.
Đài gồm tượng Phật Quan Âm và hòn non bộ phía sau lưng có dòng thác róc rách tuôn chảy suốt ngày đêm. Đài có diện tích 5,5mx7m, với số tiền xây dựng khoảng 200 triệu đồng.

Chánh điện chùa đang trong thời kỳ nâng cấp. Dù vậy, đứng trước hàng hiên chánh điện, khách phương xa vẫn thích thú với bề mặt u nhã của nó.

Xuất xứ tên gọi Đông Lai cổ tựTiền điện có hai cặp đối. Một cặp bên ngoài ghi dọc hai câu đối âm Hán tự: "Hoằng pháp vi gia vụ/Lợi sanh vi bổn hoài". Cặp đối bên trong, cũng bằng âm Hán tự, ghi dọc: "Đông độ Tây Thiên trụ đại pháp/Lai nhân duyên hữu thoát trẩn ai". Cặp đối này đáng chú ý vì mỗi câu được khởi đầu bằng chữ: "Đông" và "Lai". Ghép hai chữ này lại thành Đông Lai, là tên chữ chính thức của chùa: Đông Lai cổ tự. Nhưng vì chùa tổ chức phục vụ miễn phí bánh xèo cho bất cứ ai đến viếng, nên người ta gọi là chùa Bánh Xèo cho "thân mật" và dân dã như bản tính của thượng tọa trụ trì.


Dài hai tường chùa là phù điêu Thập bát la hán được chạm khắc tinh xảo, mỹ thuật. Trần chùa cao thoáng. Nóc chùa ba lớp nhỏ dần lên, lợp ngói đỏ, mái đao theo truyền thống chùa chiền Việt Nam... Thời gian này việc xây sửa chùa lúc nào cũng rộn rịp. Và, theo Thượng tọa Thích Thiện Chí, khi quyên góp được số tiền lớn nữa, sẽ tiến hành tạo thêm nét mỹ quan cho chùa...

Việc xây mới, nới rộng khiến chùa thêm ngăn nắp, sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh môi trường. Phía sau chánh điện là nhà ăn, có hai khu vực. Khu vực ngoài sắp 20 bàn (200 ghế). Bên trong 10 bàn (100 ghế). Bàn ghế bằng inox sáng bóng. Trên bàn luôn để sẵn chén, đũa, dĩa, muỗng, hũ nước chấm chanh đường, hũ tăm xỉa răng, chén ớt... Phía trong cùng là khu vực bếp, gồm nơi rửa chén dĩa, đũa muỗng, nơi làm nhưn bánh xèo, nơi nấu cơm và thức ăn. Tất cả đều được lót gạch men sáng bóng. Khu vực đổ bánh xèo nằm bên phải chánh điện, cách một lối đi, vừa phân biệt vừa giúp tránh gây nóng nực cho nhà ăn, nhà bếp.
Anh Ngô Văn Vũ “tả xung hữu đột” với 10 chảo bánh xèo nóng lửa.

Nơi đổ bánh xèo có bốn nhóm, mỗi nhóm có hai hoặc ba người, anh Ngô Văn Vũ (31 tuổi, đổ bánh xèo cho chùa khoảng 5 năm nay) cho biết. Một người đổ bánh mọt lúc 10 chảo, sắp hình vòng cung; một người phụ việc, chuyển bánh lên nhà ăn. Khi có khách đến lập tức bếp lửa cháy phừng phực, các đầu bếp rộn ràng vào việc ngay. Bánh xèo được đổ liên tục, đáp ứng nhu cầu. Nhìn “thợ” đổ bánh xèo làm việc nhanh nhẹn, khéo léo, ai cũng quên cái nóng bức của bếp lò. Đáng quan tâm là khu nhà vệ sinh được tách biệt với khu chánh điện, nhà bếp. Nhà vệ sinh lót gạch men bóng láng, khách bước vào đều để giày dép bên ngoài...

Bánh xèo được làm tại chùa

Cô Trương Thị Kim Thùy, 32 tuổi, phật tử chùa Đông Lai, người phụ trách bếp cho biết: Việc tổ chức đổ bánh xèo và bánh tét khởi phát từ năm 1999, khi Thượng tọa Thích Thiện Chí về đây trụ trì. Đó là trước ngày kỷ niệm sư ông cất chùa (cũ) viên tịch, thầy Thiện Chí nghĩ đến việc làm này. Và, ngoài số Phật tử đến dự lễ giỗ sư ông, còn có một số khách thập phương tình cờ đến viếng chùa, cùng được thưởng thức món bánh xèo và bánh tét. Tất nhiên, sau khi thưởng thức bánh xèo, bánh tét, khách gần xa đều không ngớt lời khen ngợi, nên từ đó nhà chùa thường xuyên đổ bánh xèo phục vụ khách thập phương.

Cô tâm sự, sáng nào cô cũng đều ra chợ thị trấn Tịnh Biên mua rau cải, gạo, củi... Biết chùa làm việc thiện, một số người bán hàng "hiến cúng" một số rau cải, giá, đậu... Đặc biệt, vào mùa mưa, một số phật tử và một số người thiện ý lên núi hái ngành ngạnh, kim thất, lá sung, cát lồi, đọt bứa, lá vông, mã đề, măng tươi… đem "cúng" chùa. Đây là những loại rau rừng ngoài việc giúp thực khách ngon miệng với món bánh xèo, còn giúp họ bồi bổ cơ thể, ngăn ngừa một số bệnh.

Trước khi tái thiết chùa, bên cạnh chánh điện là nhà ăn, bếp, nhà vệ sinh khá gần kề nhau. Hiện nay nhà vệ sinh xây mới đẹp đẽ với gạch men láng bóng cùng nhiều lavabo... Nhà vệ sinh được "cắt" khỏi hông chùa, nhằm tạo không khí thanh sạch cho nơi tôn nghiêm. Phía sau chánh điện là nhà ăn, sau nữa là nhà bếp với hai nhóm: nhóm lặt rau, làm nhưn bánh xèo và nhóm nấu cơm.

Riêng đổ bánh xèo có bốn nhóm, mỗi nhóm có khoảng hai người, anh Ngô Văn Vũ (31 tuổi, đổ bánh xèo cho chùa khoảng 5 năm nay) cho biết như vậy. Một người đổ bánh với 10 chảo, một người phụ việc, chuyển bánh lên nhà ăn. Củi lửa lúc nào cũng hừng hực, nên khu vực đổ bánh xèo là dãy nhà bên phải và cách chánh điện một khoảng sân, nhằm tránh ảnh hưởng sức nóng đến chùa và các phần việc liên quan khác.

Cô Kim Thùy cho biết vào các ngày rằm, mồng một âm lịch, chùa có tổ chức nấu bánh tét phục vụ khách thập phương, khoảng 800 – 900 đòn/ngày. Phần việc này do bà con lối xóm tự nguyện đến làm công quả.

Đáng quan tâm hơn, ngoài đổ bánh xèo, phục vụ bánh tét, chùa còn khoản đãi cơm chay cho khách viếng chùa. Cơm chay với các món: chiên, xào, mặn, canh. Muốn thưởng thức cơm chay, khách phải đặt trước để nhà chùa chuẩn bị.

Từ 6 giờ sáng đến 7-8 giờ tối, khách viếng chùa lúc nào cũng được ăn bánh xèo. Ăn đến no thì thôi. Khi khách ít, người phục vụ liên tục chuyển bánh đến. Những lúc khách đến đông thì khách phải tự mình xuống bếp mang bánh lên. Những ngày khách viếng chùa đông, những người làm công quả lâu năm đều biết, nên mạnh ai nấy tới chùa lãnh một vài nhiệm vụ. Nhà ăn có 30 bàn với 300 ghế, vậy mà ngày rằm, mồng một (âm lịch) hoặc lễ vía lớn, lúc nào cũng "hết chỗ", khách phải đứng chờ.
Từ 6 giờ sáng đến 7 - 8 giờ tối, khách viếng chùa lúc nào cũng có thể ăn bánh xèo mà không cần đặt trước.

Nhờ lực lượng làm công quả mà việc phục vụ ăn uống cho khách lúc nào cũng khá vẹn toàn. Bàn ăn và ghế bằng nhôm lúc nào cũng láng bóng. Chén đũa sạch sẽ, tinh tươm. Mỗi bàn ăn đặt sẵn lọ tăm xỉa răng, hộp khăn giấy, hộp đũa muỗng, hũ nước mắm chanh ớt, chén nhỏ đựng ớt trái...

Càng chu đáo hơn, sau khi khách ăn (cứ ăn thoải mái đến no bụng thì thôi) xong còn được tráng miệng bằng ly cà phê đá mát lịm cần cổ. Tất cả đều hoàn toàn miễn phí. Đáng ca ngợi nhất là thái độ phục vụ của những người làm công quả, ai cũng vui vẻ, nhiệt tình với khách. Chính vì vậy mà chùa Đông Lai ngày càng thu hút khách thập phương đến viếng, ngoài khách khu vực Đồng bằng sông Cửu Long còn có khách từ miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đến.
Theo Cần Thơ Online





twitter facebook Zing.me Hot!Go.vn more

Đọc tiếp

Núi Ba Thê, An Giang

Đô thị Ba Thê - Óc Eo được thiết lập từ thế kỷ thứ I và tồn tại cho đến thế kỷ thứ VII khi đồng bằng Nam bộ chịu ảnh hưởng của đỉnh cao hải xâm Đông Hải trong khoảng năm 650 sau Công nguyên. Đã có thời Ba Thê - Óc Eo là đô thị của Vương quốc Phù Nam, nằm bên bờ vịnh Rạch Giá, ăn sâu vào đất liền tận Thoại Sơn.

Qua Đại Nam nhất thống chí, núi Ba Thê có tên là Hoa Thê Sơn. Diện mạo núi có 3 chóp đứng, có nhiều cây cổ thụ xanh mát, mặt trước là lung, đầm lầy. Vào triều Minh Mạng, do húy ky tên Hoàng hậu Hồ Thị Hoa nên Hoa Thê Sơn đổi thành núi Ba Thê.

Tại cánh đồng phía nam phía Ba Thê có một vùng đất lẫn đá gọi là Giồng Cát, Giồng Xoài, vào tháng 2-1944, ông L.Malleret chủ trì đã khai quật tìm thấy một loại di tích kiến trúc gạch đá nền hình vuông không có mái ngói, nhiều hạt cườm, mảnh vàng, đồ trang sức được chế tác tinh xảo. Các vết tích, di vật để lại, Óc Eo được công nhận là di tích văn hóa cổ.

Đô thị Ba Thê - Óc Eo có 2 khu vực chính: Nội thành là nơi ở của vua chúa, quan lại, đạo sĩ, thương gia, nghệ nhân, công chức, binh lính và ngoại thành là nơi ở của công nhân và các cư dân.

Đến núi Ba Thê, du khách sẽ được thưởng ngoạn một thắng cảnh tuyệt đẹp mà tạo hóa đã ban cho. Đứng trên chóp đỉnh núi phóng tầm nhìn bao quát cả khu vực. Quanh núi là những cánh đồng trải rộng, xa xa về hướng tây là vùng biển Rạch Giá, chênh chếch hướng tây nam là dãy Thất Sơn hùng vĩ án ngữ phía chân trời.

Đến núi Ba Thê, du khách còn bắt gặp một tảng đá có hình dáng cây đao khổng lồ dựng trên chót núi, mà tên nghe rất võ hiệp “Thạch Đại Đao”. Tảng đá này có một mặt bén, một mặt bằng tựa sóng đao, dài 320cm, ngang 71cm, nặng cỡ 2 tấn 50, qua truyền thuyết được kể rất hấp dẫn. Vào một đêm mưa to gió lớn, sấm gầm gió giật, nhân dân quanh thị trấn Ba Thê kinh hoàng do những tiếng nổ phát ra khủng khiếp.

Hôm sau, có người làm rẫy ở sườn núi phát hiện vết nứt ở một tảng đá có diện mạo giống cây đao to. Mọi người cho đó là hiện tượng lạ và ùn ùn rủ nhau lên coi. Vào thời điểm đó, đường đi khó khăn, cây cối mọc um tùm, lối đi chật hẹp, dốc cao, người đi coi đông đảo ngoài sức tưởng tượng. Có số người đến tận hiện trường chưa thấy đã tung ra hàng loạt chuyện mang tính thần bí theo tưởng tượng thiếu thực tế. Cụ thể như họ nói “Long Đao xuất hiện, hình cây đao giống đạo Quan Công, thanh đao của người khổng lồ cầm gươm ba thước để xử kẻ hung ác...”.

Mặc dù chính quyền địa phương ra sức ngăn cần mọi người đến coi và tung tin đồn nhảm, vì lý do an ninh trật tự và an toàn xã hội, nhưng vẫn không chặn nổi tính hiếu kỳ của nhân dân. Rồi họ xô tảng đá rơi xuống hẻm núi mà vẫn còn nguyên hiện trạng. Những người bịa chuyện lại có dịp thêu dệt lần nữa, dân mê tín lại kéo đến coi và thì thụp cúng bái. Thấy vậy, cơ quan du lịch xin ý kiến của lãnh đạo huyện Thoại Sơn dùng cần cẩu, đưa tảng đá lên và dựng trên chóp của đỉnh Ba Thê, mặt trên là hình dáng lưỡi đao, cán đao (đế) cắm sâu khoảng 50cm.

Việc cơ quan du lịch văn hóa huyện Thoại Sơn xây chỗ dùng chứa đao nhằm thỏa mãn tính hiếu kỳ, cũng như kết hợp văn hóa tâm linh để cư dân chiêm bái. Không may, sét lại tiếp tục đánh vào một góc mái che đao, người ta lại đồn đãi “Thiên đình giành giựt cây đao với cơ quan du lịch”. Rồi cư dân kéo nhau đến coi lần nữa. Sau cùng, cơ quan du lịch xây lại mái che và gắn cột thu lôi nhầm tránh sét.

Hiện nay, đường lên đỉnh núi Ba Thê đã được trải nhựa bằng phẳng nên du khách lên núi tham quan dễ dàng. Qua đó, các hướng dẫn viên du lịch đã thuyết minh khá hấp dẫn về chuyện Thanh Đại Đao kết hợp với các vết tích như bàn chân Tiên ở sân Tiên Tự, chân Tiên ở chùa Bà gây phấn khởi và thu hút khách tham quan vừa mang tính khoa học vừa mang tính truyền thuyết dân gian rất thú vị.

Huyện Thoại Sơn hiện nay đã thực hiện đổi mới như nhiều nơi khác, định kiến xâm canh và bình quân nhân khẩu được xóa bỏ tạo ra sức mạnh tổng hợp của quần chúng, quyết đi lên từ nhiều mặt ngoài nông nghiệp còn có dịch vụ du lịch với nhiều di tích lịch sử văn hóa, núi non rất hấp dẫn du khách. Cứ với đà phát triển toàn diện, nhiều chủ trương đúng đắn, cách tổ chức thực hiện hiệu quả, hợp lòng dân, Thoại Sơn sẽ nhanh chóng tiến lên, người dân nơi đây không còn lo chuyện xóa đói giảm nghèo, mà câu chuyện hàng ngày sẽ là làm giàu bằng cách nào với đồng lúa mênh mông kéo dài tận Kiên Giang.
Theo Báo Bình Dương

Đọc tiếp

Các địa điểm tham quan khi đến Ba Chúc, An Giang


1. Nhà mồ Ba Chúc:
Vị trí: Nhà mồ Ba Chúc nằm tại xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, cách biên giới Việt Nam - Campuchia 7km
Đặc điểm: Đây là một địa điểm ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn Pốt đã xâm lược và sát hại hàng ngàn người dân Ba Chúc.




Trong chiến tranh biên giới Tây Nam, bọn diệt chủng Pôn Pốt đã tập trung đánh vào xã Ba Chúc, đốt phá nhà cửa, cướp bóc tài sản, giết người hàng loạt. Qua 11 ngày lấn chiếm (từ 18/4/1978 đến 29/4/1978), giặc đã giết hại hơn 3.000 dân lành. Nhà mồ Ba Chúc được xây dựng trên một khoảng đất giữa hai chùa Phi Lai và Tam Bửu, cách núi Tượng (Liên Hoa Sơn) 100m về hướng đông để ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn Pốt.

Nhà mồ có hình lục giác, mỗi trụ cột đỡ mái nhà được kiến trúc hình tượng như bày tay đẫm máu đang vươn thẳng lên. Bên trong nhà mồ là một khung hộp kính tám cạnh, chứa đựng 1.159 bộ hài cốt gom được của người dân vô tội bị bọn diệt chủng Pôn Pốt thảm sát.


2. Chùa Tam Bửu -Ba Chúc :
Vào ngày 13 tháng 4 năm 1978 (ngày rằm tháng 3 âm lịch), quân Pol Pot từ bên kia biên giới (Campuchia), nã pháo rơi trúng hậu liêu chùa Tam Bửu, giết chết 40 người, bị thương 20 người và làm sụp đổ một mảng tường.

Vài ngày sau, lúc 3 giờ chiều ngày 20 tháng 4, quân Pôn Pốt vượt biên, tràn nhanh vào chùa bắt hơn 800 người đủ mọi lứa tuổi, tịch thu hết vàng bạc, đồ vật có giá trị. Những ai thuộc phái nữ, bị buộc đi về hướng kênh Năm Xã, phái nam bị áp giải về hướng Cầu Sắt-Vĩnh Thông và giồng Ông Tướng. Trong số ấy, có 4 người vì già yếu, bệnh tật, đi không nổi liền bị bắn chết. Tám trăm người bị dẫn đi hôm ấy, bị đánh đập, bị hãm hiếp và rồi bị giết chết bỏ thây ngoài đồng, chỉ có 2 người còn sống sót trở về.
Theo Bia Căm thù Ba Chúc, số người bị thảm sát là 3.157 người dân thường. Một số bị giết ở các chùa như vừa kể, một số bị giết ở nhiều nơi khác. Hiện nay Nhà Mồ Ba Chúc trưng bày 1.159 bộ hài cốt, số còn lại đã được thân nhân đem chôn, hoặc nằm lại trong những hang sâu trên núi Tượng


3. Chùa Phi Lai - Ba Chúc :Ba giờ chiều ngày 20 tháng 4 năm 1978, nhằm ngày rằm tháng 3 năm Giáp Ngọ, quân đội của Pôn Pốt (Campuchia) vượt biên giới, tràn vào chùa Phi Lai.

Quân Pôn Pốt bắn xối xả, tung lựu đạn giết chết tại chỗ hơn 80 người. Những người dân hốt hoảng tháo chạy ra cửa, bị quân Pôn Pốt dùng cây đập vào đầu hoặc bắn chết hơn 100 người nữa. Có 40 người đang ẩn trốn dưới bàn Phật, cũng bị tung lựu đạn làm chết 39 người, chỉ một phụ nữ còn sống sót nhờ nép trong góc và nhờ những xác người che chắn.
Sau khi chạy lánh nạn, ngày 30 tháng 4 năm 1978, người dân Ba Chúc gồng gánh trở về. Vào chùa Phi Lai, họ thấy rất nhiều vết máu in trên tường vách. Phía trước chính điện, máu lẫn nước vàng cao 0,2 m.

Núi Tượng  -Ba Chúc An Giang :
Vào ngày 18 tháng 4 năm 1978, khi quân Pôn Pốt từ Campuchia tràn vào xã Ba Chúc (nay là thị trấn Ba Chúc). Đông đảo người dân quanh vùng đã kéo nhau lên Núi Tượng, tìm các hang đá sâu và hẻo lánh để ẩn nấp.
Cây dầu hàng trăm năm tuổi bên chân núi Tượng, gợi nhớ thuở nơi này hãy còn rừng rậm, hoang vu.
Mười một ngày sau, khi quân Pôn Pốt bị đánh đuổi, tại nhiều nơi trong đó có chùa Tam Bửu, chùa Phi Lai và các hang của Núi Tượng như: Dồ Đá Dựng, Cây Da, Ba Lê, Tám Ất… và những nơi khác đã phát hiện nhiều xác dân thường bị quân Pôn Pốt lùng sục và thảm sát. Do một số xác người ở hang quá sâu, không thể mang lên, thân nhân phải lấp kín miệng hang


Theo vietnamtourism.com

Đọc tiếp

Tham quan khu du lịch núi Sập, An Giang


Nằm giữa vùng đồng bằng tứ giác Long Xuyên thuộc địa phận huyện Thoại Sơn, cách thành phố Long Xuyên chừng 29km theo đường tỉnh lộ 943, cụm núi Sập gồm núi Sập, núi Nhỏ, núi Bà và núi Cậu là những ngọn núi tuy nhỏ nhưng góp phần đáng kể tạo nên diện mạo độc đáo của vùng quê hương “bảy núi”, đặc biệt ngọn núi Sập hay Thoại Sơn có độ cao 85m, chu vi chừng 3.800m gắn với lịch sử khai mở vùng đất Tây Nam bộ, qua thời gian vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ của núi rừng.

Video khu du lịch núi Sập

Trong một thời gian dài, núi Sập đã bị khai thác đá khá triệt để, phần thân và cả chân núi bị khoét sâu, đến độ nhiều người đã nghĩ đến sự đổ sập của ngọn núi trong một tương lai không xa đúng như tên gọi “tiền định” của nó (!). Cũng may chính quyền địa phương kịp nhận ra nguy cơ biến mất ngọn núi, một nguồn tài nguyên quý giá gắn với công lao mở cõi của Thoại Ngọc Hầu, đã cho đình chỉ việc khai thác đá nhưng hậu quả để lại cũng thật nhức nhối: bao quanh dưới chân núi là một vực sâu bị đào khoét nham nhở, rộng thênh thang với độ sâu đến hàng chục mét.


Núi Sập hay Thoại Sơn – Ảnh: nguồn hoangthantai.vn

Từ thực tế đau lòng đó, ý tưởng làm du lịch đã nảy sinh như một giải pháp tình thế mang ý nghĩa hàn gắn, giao hòa với thiên nhiên. Ngay từ năm 2000, huyện Thoại Sơn và tỉnh An Giang đã có kế hoạch cải tạo, biến vùng núi Sập thành một địa chỉ du lịch hấp dẫn nhằm phong phú hóa và làm mới hình ảnh du lịch địa phương. Xuất phát từ hiện trạng có sẵn, những nhà thiết kế đã cho đục khoét tạo ra những ngóc ngách ăn thông qua phía bên kia núi, mở rộng những chỗ dừng chân phía bên trong lòng núi, đồng thời dẫn nước vào vực đá tạo thành những hồ nước nhân tạo với những đường nối liên thông…


Hồ nước nhìn từ núi Sập – Ảnh: nguồn phuot.vn

Tại sườn phía Tây của núi Sập, đã hình thành các hồ số 1, hồ số 2 và hồ Ông Thoại, thông nhau bằng các đường hầm xuyên núi và hang núi Sập. Du khách có thể xuôi thuyền trong lòng núi mát lạnh với cảm giác khám phá thật thú vị… Từ Tây sang Đông qua phía bên kia núi, du khách còn được dịp tiếp cận với nhiều đảo đá nhỏ giữa lòng hồ thật đẹp với nhiều cây xanh và dự kiến có cả những cư dân khỉ được nuôi thả trong điều kiện tự nhiên bán hoang dã.

Phiên bản chùa Một Cột tại KDL Núi Cấm – Ảnh: nguồn skyscrapercity.com

Dự án khu du lịch núi Sập cũng đã bổ sung nhiều hạng mục như hệ thống cầu ra các đảo, xây dựng phiên bản chùa Một Cột, dựng tượng Thoại Ngọc Hầu cao gần chục mét trên một ốc đảo ngay mặt tiền hồ Ông Thoại (là quà tặng của chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam, quê hương ông)… Bên cạnh đó, hệ thống đường lên núi cũng được mở rộng để du khách có thể đến thăm Pháo Đài, Cây Da, Hang Dơi cùng một số công trình chùa chiền khác như Linh Sơn tự, tịnh xá Pháp Hoa với pho tượng Phật Di Lặc cao 8m nằm trong công viên, Duyên Phước tự là ngôi chùa đẹp nhất và có vị trí cao nhất trên đỉnh núi Sập…


Tượng Linga và Yoni – Ảnh: nguồn thamhiemvietnam.com

Trong nỗ lực tạo thêm nét nhấn nhá cho khu du lịch núi Sập, trong thời gian đầu một số tượng đá như nữ thần Siva, hình tượng Linga và Yony, tháp Ponagar… được bố trí quanh hồ hay trên các đảo nhỏ nhô lên giữa hồ gợi nhớ vương quốc Phù Nam xưa với nền văn hóa Óc Eo đã một thời tồn tại, tạo nên một không gian nhuốm màu cổ tích, vừa xa lạ lại vừa gần gũi thân quen. Các tượng này được các nghệ nhân vùng Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng tác tạo và là quà tặng của chính quyền quận Sơn Trà - Đà Nẵng, quận kết nghĩa với huyện Thoại Sơn.

Khu du lịch hồ Ông Thoại – Ảnh: nguồn vinabooking.vn

Khu du lịch núi Sập sau cải tạo đã trở thành vùng cảnh quan độc đáo của tỉnh An Giang với hồ nước nhân tạo lớn nhất vùng Tây Nam bộ, tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình, được ví như tiểu Hạ Long giữa vùng đồng bằng sông nước Cửu Long… Nhằm khai thác hữu hiệu lợi thế cảnh quan nơi đây, một khu vui chơi giải trí đã được hình thành ngay mặt trước hồ Ông Thoại, với tên gọi chính thức là “Khu du lịch hồ Ông Thoại”. Du khách đến đây có thể bơi thuyền trên mặt nước hồ trong xanh nhìn rõ những đàn cá bơi lượn tung tăng, khám phá cảnh đẹp của núi non hay tham gia những trò chơi thú vị như đạp vịt, đi xe lửa cao tốc… Tại cạnh cổng vào khu du lịch có một nhà lục giác, trưng bày bức thư pháp với 108 vần thơ lục bát đề cao những điều thiện và sự hành thiện, với kỷ lục có nhiều chữ “Tâm” nhất Việt Nam.

 Thoại Sơn 

Khu du lịch núi Sập còn mang trong mình nhiều dấu ấn của một thời mờ cõi hào hùng. Để đánh dấu công trình đào kênh Đông Xuyên (Thoại Hà) năm 1818, Thoại Ngọc Hầu đã cho soạn bài minh khắc vào bia đá, long trọng dựng bia và khánh thành miếu thờ Sơn thần trên triền núi Sập vào năm Minh Mạng thứ ba (1822). Về sau miếu Sơn thần được đổi thành đình thần thờ Thoại Ngọc Hầu. Du khách đến đây có thể tìm lại dấu xưa nơi đền thờ “Ông Thoại”, với tấm bia Thoại Sơn cao 3 mét, rộng 1,2 mét, dày hơn 20cm, khắc chạm 629 chữ Hán ghi lại việc đào kinh Đông Xuyên, cuộc đời làm quan và Nam chinh của Thoại Ngọc Hầu, được vua ban đặt tên núi mang tên ông – Thoại Sơn. Hàng năm vào dịp rằm tháng Giêng và ngày 10 tháng Ba âm lịch, người dân khắp vùng tứ giác Long Xuyên đổ về đền Thoại Sơn tham dự lễ hội, tưởng nhớ Thoại Ngọc Hầu và bao vị tiên liệt đã có công khai hoang mở cõi.

Mai An Tiêm trồng dưa hấu trên sân gạch – Ảnh: Thanh Phong (nguồn nguvandhag.wordpress.com)

Đáng tiếc là theo thời gian, do chạy theo nhu cầu thời thượng với những thị hiếu “màu mè” và dễ dãi, nhiều công trình hay cụm tượng đã được bổ sung không theo một chủ đề hay qui hoạch nhất quán, như cụm tượng bốn thầy trò Đường tăng gặp nạn thứ 82 trên triền núi Sập, cụm tượng Mai An Tiêm trồng dưa hấu được đặt trơ trụi giữa nền gạch của sàn ngắm cảnh… đã biến khu du lịch núi Sập thành một quảng trường triển lãm hỗn tạp… Hy vọng giới hữu trách sẽ có những điều tiết hợp lý để khu du lịch núi Sập ngày càng phát huy lợi thế, không chỉ dừng lại ở một khu vui chơi giải trí đơn thuần mà còn là một điểm đến văn hóa, với nhiều giá trị lịch sử và tâm linh…

Mai Kim Thành - aseantraveller.net

Đọc tiếp

Địa điểm vui chơi tham quan khi bạn đi du lịch An Giang

Địa điểm vui chơi khi bạn đi du lịch An Giang

Long Xuyên không là trung tâm liên hợp du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ, nhưng có những hoạt động đặc thù cá biệt rất hấp dẫn du khách, nhất là người nước ngoài nhờ có sắc thái du lịch miền núi và tham quan cộng đồng dân tộc Chămpa, Khmer cùng với kết hợp hành hương. Một số tours ngắn ngày nhắm vào tham quan sinh hoạt nuôi cá bè, chương trình du lịch xanh, và tham gia lễ hội người Khmer, Chămpa cũng như lễ hội "Vía bà Châu Đốc" ở núi Sam.

Ở Long Xuyên có ba di tích được xếp hạng cấp quốc gia, đó là: Ngôi nhà lưu niệm thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Đình Mỹ Phước và Bắc Đế miếu (tức chùa Ông Bắc).

Cù Lao Ông Hổ và nhà lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Cù lao Ông Hổ do phù sa sông Hậu bồi đắp. Trên cù lao có ngôi nhà gỗ, nơi gìn giữ những kỷ niệm về Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong khuôn viên hoa trái xum xuê. Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hoà Hưng cách Trung tâm Thành phố Long Xuyên bởi một nhánh sông Hậu chảy qua. Bằng nhiều phương tiện và con đường thuỳ, bộ khác nhau, chúng ta có thể đến với Cù lao Ông Hổ, nơi đây chúng ta sẽ có dịp thăm lại ngôi nhà lưu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn Đức Thắng và các di vật ngày xưa của Bác.

Cù lao Ông Hổ
Ngôi nhà được xây dựng vào năm 1887, do thân sinh của Bác là cụ Tôn Văn Đề xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Quốc, nên sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12 mét, dài 13 mét, rộng hơn 150m2.

Không chỉ có thể, đến với cù lao khách còn được nghỉ tại nhà dân (Homestay) dể thưởng thức các loại trái cây, món ăn đặc sản và nghe đàn ca tài tử, làm quen với cuộc sống của người dân Nam Bộ, thăm các bè cá ven bờ cù lao và hiện đang xúc tiến chương trình “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng”… Nơi đây, quý khách có thể tận hưởng được hương vị cuộc sống của vùng sông nước Nam Bộ.

Đình Mỹ Phước

Đình Mỹ Phước là một ngôi đình khang trang, bề thế và là một di tích kiến trúc nghệ thuật của tỉnh An Giang.

Ngôi đình nằm trong khuôn viên có diện tích 3800m2, xung quanh có tường gạch bao, có một cửa chính và ba cửa phụ bằng gạch và xi măng. Cổng chính xây theo kiểu tam quan, trên có ba chữ "Mỹ Phước (Phúc) Đình", hai bên có hai con lân bằng đất nung tráng men xanh.

Qua cổng tam quan, ở hai bên có hai miếu: miếu Sơn Quân và miếu Hội Đồng. Ngôi đình chính dài 37m, rộng 16,5m (610,5m2), gồm chín gian, có ba cửa chính. Bờ nóc gắn hai con rồng uốn khúc, đuôi xoắn, chầu nậm rượu. Nóc nhà võ ca gắn hai con phượng và bát tiên ở hai bên. Ở giữa có hình bát quái, hai bên có hai con nai. Mặt trước mái đình giữa đắp hình địa cầu, hai bên có hai con cá hóa rồng. Hai đầu đao có hình nhật nguyệt và hình người. Mái lợp ngói âm dương, có ba tầng mười hai mái, được đắp tượng cá hóa rồng, nhật nguyệt, lưỡng long tranh châu, phượng, lân và bát tiên.

Đình là một quần thể gồm nhiều nhà vuông có bốn cột cái, mở rộng ra chung quanh bằng kèo đâm và kèo quyết. Các nhà nối liền theo kiểu trùng thiềm điệp ốc], tạo nên một không gian rộng rãi.

Nội điện có khám thờ thần thành hoàng làng. Bàn thờ Hội đồng được chạm lộng sơn son thiếp vàng. Có hai bộ bao lam chạm trổ hoa lá và bát tiên, sơn son thiếp vàng. Vị thần được thờ là Nguyễn Hữu Cảnh, một vị tướng của Chúa Nguyễn Phúc Chu (1738 - 1795), người có công chiêu dân khai phá vùng đất miền Tây Nam Bộ. Ngôi đình có sắc phong từ thời Tự Đức năm thứ 5 (1852). Ngoài ra, đình còn thờ Tả ban, Hữu ban, tiền hiền, hậu hiền, Đông hiến, Tây hiến…Và đặc biệt hơn nhiều ngôi đình khác là nơi đây còn thờ thần Thị, tức ông Nguyễn Văn Võ, người có công lập chợ Long Xuyên.

Chùa Ông Bắc

Di tích chùa Ông Bắc (Quảng Đông Tỉnh Hội quán) tuy không to lớn, nhưng là một di tích kiến trúc chính thống của dân tộc Hoa.

Di tích này nằm trên đường Phạm Hồng Thái, mặt chính hướng ra sông Long Xuyên, cách cầu Duy Tân khoảng 10m, thuộc phường Mỹ Long, T.p Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Chùa đã được công nhận di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia vào thánh 6 năm 1987.

Hội quán này được xây dựng cách đây trên 100 năm, khi vùng đất này còn mang tên Đông Xuyên, sau đó thuộc thôn Mỹ Phước, huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Kiên, tỉnh An Giang thời Nhà Nguyễn.

Theo những người cao tuổi và căn cứ vào bia ký kể lai lịch chùa, thì ban đầu chùa khá đơn sơ do những người Hoa từ tỉnh Quảng Đông đến lập nghiệp xây dựng để làm nơi hội họp, sinh hoạt.
Bàn thờ Bắc Đế trong cung thờ
Nội thất chùa có cấu trúc cảnh phong thủy, thoáng mát, trên đỉnh cao tứ giác có nhiều bức chạm trổ đẹp, hình tam cấp tượng trưng cho ba cõi: Thiên, địa, nhân.

Nhìn chung, chùa đã thể hiện toàn cảnh một mô hình thu nhỏ của các ngôi nhà Quan lại phong kiến Trung Hoa.

Ngoài ra, Long Xuyên còn có công viên Nguyễn Du, quảng trường Hai Bà Trưng, chợ nổi Long Xuyên...được nhiều du khách tìm đến tham quan.

Công viên Nguyễn Du rộng khoảng 700 m² cận kề bên sông Hậu. Nơi trung tâm khuôn viên là một hồ nước nhân tạo, khiến phong cảnh nơi đây thêm đẹp và thoáng mát.


Chợ nổi Long Xuyên

Là nơi tập trung hàng trăm xuồng, ghe từ khắp nơi đến để mua bán hàng hóa (chủ yếu là hàng nông sản). Ai bán loại nào sẽ treo hàng ("bẹo" hàng) trên cây sào cao để người mua dễ nhận biết. Chợ nổi chỉ hoạt động từ khoảng 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều mỗi ngày... Ngoài ra khách còn được thưởng thức những món ăn, nước uống hết sức là bình dị trên chiếc xuồng chèo của những cô gái miệt vườn như: Bánh canh ngọt, lạt, bánh tầm, bánh bò, hủ tiếu, chè đậu đỏ, cà phê…

Làng dệt thổ cẩm Châu Giang

Vị trí: Làng dệt thổ cẩm Châu Giang ở huyện Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Làng Châu Giang nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm.

Chùa Giồng Thành (Long Hương Tự)
Vị trí: Chùa Giồng Thành thuộc xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, cách trung tâm tỉnh khoảng 75km về hướng Châu Đốc, cách huyện lỵ Tân Châu 3km.
Đặc điểm: Chùa Giồng Thành là một trong những di tích ở An Giang được Nhà nước công nhận, xếp hạng quốc gia vào năm 1986.

Chùa Xà Tón (Xvay-ton)

Vị trí: Chùa Xà Tón nằm ở thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Chùa Xà Tón (Xvay-ton) là một ngôi chùa thờ Phật nổi tiếng (theo phái tiểu thừa), tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc chùa tháp của đồng bào Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ.

Di tích Quản cơ Trần Văn Thành
Vị trí: Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành nằm giữa đồng lúa Lạng Vinh, bên bờ kênh Xáng Vinh Tre (kênh Tri Tôn), thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang,
Đặc điểm: Đền thờ do ông Trần Văn Nhu, con trai cả ông Trần Văn Thành đứng ra xây dựng năm 1897 để tưởng nhớ cha.

Núi Cấm

Vị trí: Núi Cấm nằm trong cụm Thất Sơn ở miền Tây Nam Bộ, thuộc địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Tượng Phật Di Lặc lớn nhất Việt Nam; chùa Vạn Linh với ngôi tháp bề thế, linh thiêng.

Nhà bảo tàng tỉnh An Giang
Vị trí: Nhà bảo tàng tỉnh An Giang toạ lạc bên đường Thoại Ngọc Hầu, phường Mỹ Long, Tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Nhà bảo tàng tỉnh An Giang là nơi trưng bày các tài liệu, hiện vật và hình ảnh phản ánh lịch sử, văn hoá và quá trình phát triển của tỉnh An Giang.

Cù Lao Giêng

Vị trí: Cù Lao Giêng thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Cù Lao Giêng (hay Diên, Riêng, Den, Ven) mà người Khmer gọi “Koh-Teng” có một bề dày lịch sử rất tự hào, nơi đã ghi lại dấu son lịch sử của phong trào cách mạng từ những năm 1930 với lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép xã Long Điền A.

Rừng tràm Trà Sư

Vị trí: Rừng tràm Trà Sư nằm trên địa bàn xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Trà Sư là khu rừng tràm với tổng diện tích 845ha, có nhiều loài chim quý.

Chùa Tây An

Vị trí: Chùa Tây An thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Chùa Tây An mang dáng dấp của những ngôi chùa Ấn Ðộ, có kiến trúc hài hoà với cảnh trí thiên nhiên, tạo một vẻ đẹp lộng lẫy. Chùa là một trong cụm di tích ở chân núi Sam.

Lăng Thoại Ngọc Hầu

Vị trí: Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Lăng Thoại Ngọc Hầu là một trong số nhiều di tích ở chân núi Sam. Tại đây có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân được xây vào thập niên 30 của thế kỷ 20.

Miếu Bà Chúa Xứ

Vị trí: Di tích núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Núi Sam không chỉ là cảnh đẹp thiên nhiên, tại đây có nhiều di tích kiến trúc, văn hóa đã khắc sâu vào tâm linh người dân đồng bằng Nam Bộ.

Cụm di tích núi Sam

Vị trí: Di tích núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Núi Sam không chỉ là cảnh đẹp thiên nhiên, tại đây có nhiều di tích kiến trúc, văn hóa đã khắc sâu vào tâm linh người dân đồng bằng Nam Bộ.

Khu di tích lịch sử Tức Dụp

Vị trí: Khu di tích lịch sử Tức Dụp thuộc địa phận thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Tức Dụp là căn cứ địa vững chắc của quân và dân An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Khu di chỉ Óc Eo

Vị trí: Khu di chỉ Óc Eo thuộc vùng núi Sập - Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Thành cổ Óc Eo là một thương cảng thời trung cổ bị chìm dưới đất, được phát hiện khi nhân dân đào kênh xáng Ba Thê.

Theo tey - Thành viên hoidulich.com

Đọc tiếp

Tham quan Khu di chỉ Óc Eo, An Giang


Khu di chỉ Óc Eo thuộc vùng núi Sập - Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, là một địa danh được nhiều người trong và ngoài nước biết đến: là một khu di tích cổ rộng lớn, gắn liền với vết tích vật chất của vương quốc Phù Nam, một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đông Nam Á cách nay khoảng 2.000 năm.
Nhà trưng bày văn hóa Óc Eo An Giang
Hiện nay, khu di chỉ Óc Eo không những đón được rất nhiều nhà sưu tầm, khảo cổ đến nghiên cứu, tìm hiểu mà còn hấp dẫn được rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến đây để xem di vật, vết tích được phát hiện để biết thêm về một thời kỳ phát triển rực rỡ của vùng đất An Giang ngày xưa nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Nói về vương quốc Phù Nam, đây là một quốc gia cổ đại đầu tiên được hình thành ở Đông Nam Á, do một quý tộc có tên là Hỗn Điền (Kaundynia) khai sáng. Trải qua thời gian nơi đây là một vương triều hùng mạnh với vùng thương nghiệp phát triển và 13 đời vua kế tiếp nhau vững mạnh. Vì muốn thâu tóm quyền lực, bành trướng lãnh thổ, đem quân đi chinh phục các quốc gia kề cận, vương quốc Phù Nam đã sớm bị suy vong vào thế kỉ thứ VII.

Các bằng chứng khảo cổ mà các nhà khoa học cho thấy nền văn minh Phù Nam có những bước phát triển rực rỡ thể hiện ở hệ thống kênh đào chằng chịt, nền thủ công nghiệp phát triển gồm các nghề thủ công kim hoàn, gốm sứ là tiền đề cho các ngành thương nghiệp phát triển. Ngoài ra những di tích kiến trúc xây dựng còn lại như các đền thờ, mộ táng bằng gạch đá hồn hợp là sự giao lưu, kết hợp các nền văn minh thời cổ đại trong khu vực và văn hoá bản địa tạo ra một sự phong phú đặc sắc.

Những di chỉ khảo cổ được phát hiện qua các đợt khai quật gần đây nhất là các di chỉ kiến trúc như mộ táng và di chỉ cư trú với trên 270 hiện vật, trong đó có 196 hiện vật bằng vàng, 22 hiện vật bằng đá, 47 hiện vật bằng đất nung,… là những di vật của nền văn hoá óc Eo. Hiện tại Óc Eo nằm sâu trong đất liền hơn 20 km nhưng theo các nhà địa chất, vào khoảng đầu Công nguyên, Óc Eo là một cửa biển thông qua vịnh Thái Lan. Khu vực này nằm trên trục đường thương mại hàng hải giữa một bên là bán đảo Mã Lai và Ấn Độ, một bên là sông Mê Kông và Trung Quốc, do đó Óc Eo trở thành một địa điểm trung chuyển rất thuận lợi.

Đến thế kỷ VI - VII, các thương thuyền có thể di chuyển ngoài khơi xa với khoảng cách lớn hơn mà không phải dừng lại khắp nơi hay đi dọc theo bờ biển. Óc Eo mất dần vị thế hấp dẫn, sức thu hút giảm dần vì hàng hóa không phu phú lắm. Sự trỗi dậy của Chân Lạp và thương mại vùng Mê Kông góp phần đẩy Óc Eo bước vào thời kỳ suy sụp. Óc Eo đã từng được nối bằng một kênh đào dài 90km về phía Bắc với Angkor Borei, nơi có lẽ là thủ đô của Vương quốc Phù Nam. Từ kênh đào này, có các kênh đào nhánh tách ra xung quanh tạo thành các hình chữ nhật đều đặn. Bên trong các khu vực hình chữ nhật này còn sót lại những dấu tích của các khu sản xuất đồ nữ trang, thủ công mỹ nghệ, các móng nhà bằng gỗ và bằng gạch, các viên gạch được trang trí bằng các hình sư tử, rắn mang bành, động vật một sừng và các động vật khác.

Tính đến năm 1975, bộ sưu tập về văn hóa Óc Eo - Ba Thê đã có 3.969 hiện vật, trong đó bao gồm: 498 đồ vàng, 137 đồ bạc, 4 chì, 83 thiếc, 149 đồ đồng, 2.749 đồ đá màu. Những hiện vật này cho thấy trình độ kỹ thuật khéo léo cũng như độ tinh xảo trong nhiều nghề thủ công của cư dân Óc Eo. Văn hóa Óc Eo đã hình thành và phát triển trên một cơ tầng văn hóa bản địa vững chắc. Các nhà khảo cổ học đã bước đầu lần tìm và chứng minh sự phát triển trực tiếp của văn hóa Tiền Óc Eo tới Óc Eo. Những kết quả nghiên cứu này đã bác bỏ ý kiến của các học giả nước ngoài cho rằng văn hóa Óc Eo hình thành từ các vùng đất thực dân của người Ấn Độ.

Dù hiện nay các học giả trong nước và quốc tế còn đang cố gắng để xây dựng hệ tiêu chí chuẩn nhằm phân lập và định diện những đặc tính tiêu biểu cùng vòng ảnh hưởng của văn hoá Óc Eo, nhưng đại đa số các nhà nghiên cứu đều coi Óc Eo là nền tảng đồng thời là sự phát triển sớm nhất, tiêu biểu của văn hóa Phù Nam và vương quốc Phù Nam. Ngoài khu vực được xem là “thành phố Óc Eo” có diện tích 4.500ha, còn có một vài vùng ở miền Tây Nam Bộ như: Đồng Tháp Mười, Châu Đốc, Kiên Giang mà cho đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu, khảo cổ.
Nguồn: nto.vn
Nguồn: nto.vn

Đọc tiếp

Trải nghiệm du lịch núi Cấm, Tịnh Biên, An Giang


Đến núi Cấm (Tịnh Biên, An Giang), bạn phải lên và sống trên núi mới thấy hết được nét đẹp tiềm ẩn của nó. Các bác tài xe ôm sẽ "vù vù" đưa bạn lên chùa Phật Lớn ở độ cao khoảng 400 - 500 m.

Đi xe ôm lên núi, bạn mới cảm nhận được sự thú vị. Chiếc xe như cố trườn qua các tảng đá lớn, những hòn sỏi to và thỉnh thoảng gặp một dòng suối nhỏ loanh quanh chảy ngang mặt đường. Đưa bạn vượt qua chặng đường quanh co khúc khuỷu này đều là những tay đua "vượt địa hình" xuất sắc và điêu luyện. Phục họ bao nhiêu, bạn càng tội chiếc xe bấy nhiêu. Bởi để có thể trườn trên con đường dài khoảng 10 km ấy, chiếc xe phải được xoáy nòng, thay sên dĩa ba tháng một lần. Đưa khách lên núi 25.000 đồng, xuống núi 20.000 đồng. Nhưng tính cả lượt đi và về, bạn sẽ được các bác tài ra giá hữu nghị 40.000 đồng. Xe ôm trên núi hoạt động hầu như liên tục, tới khoảng 9-10 giờ tối mới ngưng.

Điều kỳ thú tiếp theo là chùa Phật Lớn. Nghe cái tên ắt hẳn ai cũng tưởng đó là ngôi chùa đồ sộ, uy nghi, nào ngờ chỉ là một ngôi chùa nhỏ bé. Không gian chùa khá chật khi thờ một tượng Phật quá lớn. Theo cư dân địa phương, sở dĩ gọi chùa Phật Lớn là vì chùa có tượng Phật to và còn để phân biệt với chùa Phật Nhỏ ở hướng đông gần chân núi. Đến khu vực chùa Phật Lớn, bạn sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp một khu phố chừng khoảng chục căn nhà, mỗi bên áp mái vào nhau trên một con đường vừa đủ hai người đi. Nhà nào cũng có gác. Bên dưới dùng để bán buôn, gác dùng để ở, có nhà dùng vài ba phòng cho khách trọ. Giá khá rẻ, 30.000 đồng/ngày đêm. Giá càng rẻ hơn nữa, chỉ có 3.000 đồng/người, nếu bạn chịu ngủ chung với nhiều người trên một sàn nhà với một chiếc chiếu và một cái mền. Bỏ lại sau lưng những âm thanh ồn ào và náo nhiệt của chốn phồn hoa đô hội, cư trú trong những khu nhà trọ mang đậm chất dân dã này, bạn sẽ được tận hưởng sự tĩnh lặng của núi non và cũng để cảm nhận được cái không khí lành lạnh của màn sương mỏng bàng bạc, bao phủ quanh triền núi.

Càng về khuya núi Cấm càng cho bạn thấy tên gọi "Đà Lạt thứ hai" như nhiều người xưng tụng quả là không ngoa.
Theo vnexpress.net

Đọc tiếp